- So sánh phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật,Ngữ văn Lớp 10,bài tập Ngữ văn Lớp 10,giải bài tập Ngữ văn Lớp 10,Ngữ văn,Lớp 10 Lazi - Người trợ giúp bài tập về nhà 24/7 của bạn
So sánh ý kiến nghệ thuật của 2 đối tượng Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa và Vũ Như Tô trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài để thấy được ý kiến sống và nghệ thuật của mỗi tác giả trong việc xây dựng tình tiết, hình tượng, diễn biến tâm lí của đối tượng.
Để so sánh hai số nguyên, cách đơn giản nhất là sử dụng các lệnh IF và ELSE trong C. Bắt đầu từ chương trình C này, chúng ta dần làm quen với cách lập giải thuật từ đó viết code cho chương trình C thực sự. Với các cách thực hiện tuần tự như vậy thì mình tin rằng sẽ
Tao ra biểu đồ so sánh chỉ trong 5 bước dễ dàng: Tạo một tài khoản Canva mới để bắt đầu thiết kế biểu đồ so sánh của riêng bạn. Chọn từ thư viện các mẫu mã có sẵn chuyên nghiệp. Tải lên hình ảnh của riêng bạn hoặc lựa chọn hình ảnh có sẵn từ kho tài nguyên
So sánh Main H110 và H310 về CPU đi kèm nhé! Bo mạch chủ H110 hỗ trợ CPU Intel sử dụng Socket 1151, cụ thể: dòng Core i thế hệ thứ 6 và 7, các dòng Pentium G4xxx, Celeron G3xxx. Ví dụ: Core i7 7700, Core i7 6700, Core i5 7400, Core i3 6300. Main H310 tương thích với các mã Core i thế hệ thứ 8 và
Gương chiếu hậu. Chỉnh điện, gập tay, sấy kính, đèn báo rẽ. Chỉnh/gập điện tự động, sấy kính, tích hợp đèn báo rẽ. Mâm/lốp xe. Hợp kim nhôm 17". Hợp kim nhôm 18". Kích thước Nissan Terra 2022 thuộc hàng "khủng" trong phân khúc khi có thông số chiều dài, chiều
Như vậy, So sánh là việc so sánh sự vật, vấn đề này với sự vật, vấn đề khác có nét tương đương . Biện pháp so sánh có tác dụng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự vật được nhắc tới, khiến cho câu văn thêm phần sinh động, gây hứng thú với người đọc. Bạn đang đọc: Các biện pháp nghệ thuật và tác dụng các biện pháp nghệ thuật
IdkV3T. Trong các tác phẩm văn học, các tác giả thường sử dụng các biện pháp nghệ thuật nhằm bổ trợ cho việc diễn đạt nội dung. Có thể khẳng định, các biện pháp nghệ thuật có vai trò rất lớn tạo nên sự thành công của tác phẩm. Do đó, để học tốt môn Ngữ văn, học sinh cần nắm được các biện pháp nghệ thuật và tác dụng các biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong văn học Việt sánh Đây là biện pháp tu từ thường được sử dụng nhất, được sử dụng gắn liền với các từ ngữ như, bao nhiêubấy nhiêu. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các từ ngữ biểu hiện sự so sánh thường bị vậy, So sánh là việc đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương pháp so sánh có tác dụng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự vật được nhắc tới, khiến cho câu văn thêm phần sinh động, gây hứng thú với người dụ Trẻ em như búp trên cành. Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là pháp so sánh giữa trẻ em với búp trên cành, gợi cho người nghe, người đọc thấy được sự non nớt của trẻ em. Vì thế, trẻ em cần được bao bọc, che chở và chăm hóaNhân hóa là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ, của con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật,Ví dụ Trong tác phẩm rừng xà nu của tác giả Nguyễn Trung Thành có đoạn Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá xum xuê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, nhưng vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường ví dụ nêu trên, ta có thể thấy các biện pháp nghệ thuật và tác dụng các biện pháp nghệ thuật. Nổi bật trong đoạn văn trên là phép nhân hóa cây xà nu với thân thể cường pháp nhân hóa có tác dụng làm cho đồ vật, con vật, cây cối, thiên nhiên gần gũi hơn với con người. Từ đó, giúp con người quý trọng, gắn bó và có ý thức giữ gìn, bảo vệ thiên nhiên. Ngoài ra, còn biểu thị tình cảm, suy nghĩ của con người với thế giới xung thể bạn quan tâmCon người mất bao nhiêu lượng nước của cơ thể thì tử vong?Khi nào tên của các chủ tịch ủy ban năm 2023 xuất hiện?Màu sắc may mắn của Bạch Dương ngày 11/3/2023 là gì?Nghệ sĩ Hop Festival 2023Thời gian của Mukkoti Ekadasi vào năm 2023 là gì?Ẩn dụẨn dụ cũng là một biện pháp nghệ thuật thường xuyên được sử dụng nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. Ẩn dụ là phương thức biểu đạt gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng dụ Thuyền về có nhớ bên chăngBến thì một dạ khăng khăng đợi thuyềnCa daoTrong câu ca dao trên, hình ảnh thuyền và bến được sử dụng để chỉ người đàn ông và người phụ nữ. Trong đó, thuyền chỉ người đàn ông, bôn ba ngược xuôi. Còn bến chỉ người phụ nữ ở một nơi chờ đợi người đàn ông. Từ đó nói lên sự sắt son, chung thủy của tình yêu nam dụHoán dụ là biện pháp nghệ thuật thường bị nhầm lẫn với biện pháp ẩn dụ. Khác với ẩn dụ, Hoán dụ là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần pháp hoán dụ có tác dụng làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn dụ Áo nâu cùng với ao xanhNông thôn cùng với thành thị đứng nâu đại điện cho người nông dân của vùng nông thôn, áo xanh đại diện cho giai cấp công nhân của thành quá Tìm hiểu về các biện pháp nghệ thuật và tác dụng các biện pháp nghệ thuật, chúng ta không thể không nhắc đến biện pháp nói quá là biện pháp tu từ phóng đại quy mô, mức độ, tính chất của sự vật và hiện pháp nói quá giúp làm cho hiện tượng, sự vật miêu tả được nhấn mạnh, gây ấn tượng và tăng sức biểu dụ Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.Hịch tướng sĩ, Trần Quốc TuấnBiện pháp nói quá giúp cho tác giả thể hiện sự căm tức đối với quân xâm lược cũng như quyết tâm đánh thắng kẻ giảm nói tránhTrái ngược với nói quá là biện pháp nói giảm nói tránh. Nói giảm nói tránh là biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, lịch dụ Bác đã đi rồi sao Bác ơiMùa thu đang đẹp nắng xanh trờiBác ơi!, Tố HữuTrong hai câu thơ trên, nhà thơ Tố Hữu đã sử dụng từ đi thay cho từ chết để giảm đi sự đau thương, mất từ, điệp ngữĐiệp từ, điệp ngữ cùng là một biện pháp được sử dụng nhiều trong thơ, văn Việt Nam. Điệp từ, điệp ngữ là biện pháp tu từ lặp lại nhiều lần một từ hoặc cụm câu thơ, câu văn sử dụng điệp ngữ đạt hiệu quả cao về diễn đạt, tạo sự hứng thú cho người đọc người nghe. Bởi điệp từ, điệp ngữ có tác dụng nhấn mạnh, tạo ấn tượng, gợi liện tưởng, cảm xúc, vấn điệu cho câu thơ, câu dụ Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xaThương em,thương em,thương em biết thơ trên trên được trích từ bài thơ Gửi em Cô thanh niên xung phong của tác giả Phạm Tiến Duật, tác giả đã sử dụng biện pháp lặp từ nối tiếp thương em vô cùng gợi cảm. Cụm từ thương em được lặp lại nhiều lần diễn tả tình cảm của tác giả đối với cô thanh niên xung bài viết trên, bạn đọc đã nắm được các biện pháp nghệ thuật và tác dụng các biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong văn học Việt Nam. Mong rằng, những thông tin trên sẽ hữu ích với bạn đọc và giúp cho các em học sinh học tập tốt môn Ngữ văn.
5. Cấu trúc luận văn Nghệ thuật so sánh Nói đến văn chương là nói đến so sánh. Aphơrăngxơ định nghĩa “Hình tượng là gì? Chính là so sánh”, Gôlúp khẳng định “Hầu như cứ sự biểu đạt nào cũng có thể chuyển thành hình thức so sánh ”. So sánh là một biện pháp làm cho thơ có hình ảnh, có sức biểu cảm, nâng cao chức năng nhận thức đối với đối tượng từ việc tri giác một sự vật đã biết đến cách nhìn trừu tượng. Biện pháp so sánh là nơi thử thách vốn từ vựng, năng lực liên tưởng, tưởng tượng của người làm thơ. Thơ Hữu Thỉnh không mấy khi diễn đạt những điều xa xôi, không cầu kỳ trong cách suy tưởng nên hình ảnh so sánh rất tự nhiên bám chặt vào cuộc sống đời thường. Với những hình ảnh so sánh hết sức bình dị gần gũi mà mới lạ ngôi sao - giọt sương; dây phơi – dây đàn … thể hiện con mắt tạo hình của một hoạ sỹ giàu óc tưởng tượng. Đọc thơ Hữu Thỉnh ta nhận thấy nhà thơ sử dụng nhiều kiểu so sánh khác nhau nhằm tạo giá trị biểu cảm và tăng nhận thức cho thơ mình. Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh Trong thơ Hữu Thỉnh kiểu so sánh “A như B” xuất hiện nhiều nhất. Đặc điểm của kiểu này là tạo ra hai vế song song để “khẳng định giá trị và nâng sự thẩm thấu lên trình độ nhận thức”[5,78]. Hữu Thỉnh sử dụng phép so sánh có quan hệ từ “như” có đầy đủ cả tính chất, phương tiện của yếu tố được so sánh. Nghĩa là đối tượng mà nhà thơ muốn diễn giải, biểu đạt nội hàm nghĩa được cụ thể về một thuộc tính, một đặc điểm để liên tưởng với đối tượng thứ hai tương đồng với nó. Những câu thơ dùng so sánh như thế thường cụ thể hơn “Tôi hay héo như cây/Tôi hay buồn như nước”. Lối so sánh này khác hẳn với lối so sánh trong ca dao. Ở ca dao tác giả thường không lấy bản thân ra để ví von thể hiện tâm trạng mà chỉ để khẳng định phẩm chất hoặc giãi bày tình cảm con người. Còn Hữu Thỉnh lại trực tiếp đem tâm trạng của mình làm đối tượng so sánh. Một loạt các câu thơ có chứa kiểu so sánh này - Ai chèo đò như dáng mẹ ta khom - Những sợi tóc đứng yên mà ta nhìn thấy bão Bao thăng trầm như sóng đánh qua anh - Đêm căng như tờ giấy Chia đều sang hai trang - Gió như người chạy chân trần trên cỏ Một kiểu so sánh xuất hiện với tần số lớn trong thơ ông đó là dạng ẩn đi tính chất, phương diện so sánh. Cách ví von như thế đòi hỏi người tiếp nhận phải có óc tưởng tượng tốt, khả năng huy động vốn sống và cảm thơ sâu sắc mới có thể nhận ra được ý nghĩa và giá trị của phép so sánh Khói như cây biết sinh quả theo mùa Thong thả chín, mẹ lại bồi thêm cỏ Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh Hữu Thỉnh đặt hai sự vật tưởng như không có nét tương đồng, xa nhau để so sánh mà giấu đi sự giải thích tính chất của sự vật. Điều đó khiến cho câu thơ có một nét duyên ngầm, gợi liên tưởng sâu sắc cho người đọc. Ngọn khói cũng lớn dần, tạo thành nhiều chùm giống như cây cũng tạo quả từng ngày. Phép so sánh như thế đã thể hiện tư duy thơ hiện đại, phong phú của nhà thơ. Bên cạnh kiểu so sánh truyền thống, Hữu Thỉnh có những biến đổi hết sức mới lạ, thể hiện tư duy thơ sáng tạo, có giá trị tạo hình rất lớn. Đó là kiểu so sánh “A là B”. Tuy dạng so sánh này không nhiều nhưng Hữu Thỉnh đã một lần nữa thể hiện khả năng của mình ở nhiều kiểu so sánh. Đặc biệt ông thường sử dụng dạng so sánh khẳng định này khi nhấn mạnh và thừa nhận về mình, hoặc những biểu hiện của cô đơn, lẻ loi, chống chếnh - Hầm là nơi che máu che sương Là cửa sổ mở về hướng mẹ - Hoàng hôn là ban mai của cô gái bán mình - Anh là khách quen của những buổi chiều Nếu so sánh “A là B” luôn mang tính khẳng định, bất biến thì khi nhà thơ thêm vào trước từ “là” một từ “không” hoặc “không phải” thì nội dung so sánh sẽ chuyển sang ý nghĩa phủ định. Thực chất, nó cũng là một cách biểu cảm, sự khẳng định ngược lại những tính chất của đối tượng Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím Thơ viết ở biển Một phép so sánh nữa có trong thơ Hữu Thỉnh nhưng chúng ta cũng bắt gặp trong sáng tác của các nhà thơ khác. Đó là kiểu so sánh “A thành B”, trong đó các từ so sánh thương dùng là thành, biến thành, hoá... có tác dụng kết nối hai vế được so sánh Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh - Chiếc xe tăng thành một quả bom hơi - Con gà trống cù kỳ quanh vại nước Hạt thóc ngậm vào thành hạt ngọc của tình yêu - Tôi thành kẻ bị lột trần trơ trẽn Cả lũ nhìn nhau côi cút dưới bầu trời Có những câu thơ so sánh theo dạng này, Hữu Thỉnh thể hiện rất hay Cây rơm vẫn mơ thành đám mây vàng Hạnh phúc Những sáng tạo mà Hữu Thỉnh tạo ra được khi sử dụng biện pháp so sánh trên nhiều kiểu cấu trúc nó thể hiện sự phong phú, biến hoá và sinh động trong thơ ông. Tuy vậy nét hấp dẫn nhất của nghệ thuật so sánh trong thơ lại ở chỗ nhà thơ đem được hai đối tượng khác loại, cách xa nhau đặt cạnh nhau và tìm ra được những nét tương đồng giữa chúng mà người khác ít nhận thấy. Phải có một khả năng tưởng tượng sâu rộng nhà thơ mới tạo ra được những so sánh “đắt”, biểu cảm và gợi hình cao. Trong thơ mình, Hữu Thỉnh tạo ra được các so sánh vừa độc đáo, vừa mang đậm sắc thái dân tộc. Sự độc đáo thể hiện rõ nhất qua việc những đối tượng khác nhau mà tác giả kéo chúng lại gần nhau trong một liên tưởng độc đáo như ngôi sao - giọt sương, lá cờ cuộn - tổ sâu, cỏ - nhang khói, cánh chim - chiếc ô, dây phơi – dây đàn … Không những thế các sự vật được ông đem ra so sánh không có gì cao siêu bí hiểm mà vô cùng gần gũi với đời sống ở những làng quê, nơi nào cũng có đó là mây trắng bay qua, dòng sông chảy xiết, cốc chén trên bàn, mẻ bánh đa đỏ nắng … Các hình ảnh so sánh của Hữu Thỉnh hấp dẫn người đọc bởi nó đã gợi ra một thứ “văn hoá nhà quê” . Hữu Thỉnh vừa tiếp thu vừa đổi mới sáng tạo thành quả của người đi trước góp phần “đánh thức người nhà quê vẫn ẩn Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh náu trong lòng ta khi chúng ta ngày một cố lìa xa nề nếp cũ để hòng đi tới chỗ mà ta gọi là văn minh” Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam. Sự từng trải trong cuộc sống, sống sâu sắc và mạnh mẽ trong biển nhân dân để lời ăn tiếng nói bình dân ngấm vào máu thịt, không ngừng học hỏi và tài năng cá nhân … Tất cả những điều đó đã làm nên một Hữu Thỉnh với nét đặc sắc riêng ít ai có được.
VĂN HỌC VÀ CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬTI Tổng quát - Văn học và các loại hình nghệ thuật khác ra đời từ lao động và hoạt động thực tiễn củacon người. Hoạt động và nhu cầu thực tiễn của con người là đa dạng nên các loại hìnhnghệ thuật cũng vô cùng phong phú và phức tạp. Chính vì thế mà có rất nhiều cách phânloại nghệ thuật tĩnh - động, không gian - thời gian, thính giác - thị giác, vật phẩm - hoạtcảnh,... Tính hình tượng gián tiếp, tính tư duy trực tiếp là đặc trưng cơ bản khiến văn họckhó khái quát văn học vào loại nào, cũng như khiến văn học khác biệt với bất cứ loại hìnhnghệ thuật nào Belinxki khẳng định rằng “Thơ văn là loại hình nghệ thuật cao cấp nhất...” Thơ văn đượcthể hiện rõ trong lời nói của con người. Mà lời nói vừa là khái niệm, vừa là âm thanh, vừalà bức tranh. Vì vậy, thơ ca mang trong mình tất cả các yếu tố của các loại hình nghệthuật khác, nó như đồng thời sử dụng không tách rời phương thức của tất cả các loại hìnhnghệ thuật riêng Tuy nhiên, tùy theo nhu cầu thẩm mỹ kết tinh những phẩm chất xã hội và ý thức trongtừng thời kì lịch sử sẽ phù hợp nhất với chỗ “mạnh” của một loại hình nghệ thuật nào đóthì loại hình nghệ thuật ấy sẽ vươn lên nắm vai trò tiên phong.Nhìn lại lịch sử văn học nghệ thuật nhân loại, vai trò tiên phong trong gia đình nghệ thuậtđược chuyển giao từ loại hình nghệ thuật này sang loại hình nghệ thuật khác. Hay là cósự phát triển không đều giữa các bộ môn nghệ thuật trong lịch sử. Trong thời cổ Hi Lạp,kiến trúc và điêu khắc giữ vai trò hàng đầu, đến thời Phục hưng thì vai trò đó chuyểnsang Hội họa. Đến thế kỉ XIX thì lại là văn học. Đến thời điểm hiện tại, do nhu cầu nhậnthức thế giới và đấu tranh tư tưởng ngày càng nâng cao mở rộng, văn học tiếp tục giữ vịtrí quan trọng, “Thơ là thơ, đồng thời cũng là vẽ, là nhạc, là chạm khắc theo một cáchriêng.” Nxb Văn học, Hà Nội, 1996, Trong “Nhà thờ đức bà Pari”, Huygo đã miêutả một hình tượng sinh động về một công trình kiến trúc. Hay trong “Truyện Kiều”,Nguyễn Du cũng đưa vào tác phẩm âm thanh tiếng đàn của Thúy Kiều, một minh chứngsống động về sự chuyển dịch của văn học đối với loại hình nghệ thuật âm Văn học với hội họa 1 So sánh- Giống Chúng cùng tái hiện những đối tượng nhất định như thế giới ngoại quan hay nộitâm con người. Mối quan hệ giữa văn học và hội họa là mối quan hệ hai chiều, tác độngqua lại lẫn Khác Chất liệu của văn học là ngôn từ, còn chất liệu của hội họa là màu sắc, đường học được lưu truyền bằng miệng hoặc văn bản còn hội họa chỉ có thể lưu truyềnbằng chính nó – tranh vẽ. Nếu hội họa tái hiện sự vật ở trạng thái tĩnh thì văn học có thểmô tả quá trình, sự vận động và diễn biến của đối tượng.Văn học và hội họa có mối quan hệ mật thiết với nhau2 Nguyên nhân
Sự khác biệt giữa Khoa học và Nghệ thuật Tác Giả John Pratt Ngày Sáng TạO 17 Tháng MộT 2021 CậP NhậT Ngày Tháng 11 Tháng Sáu 2023 Sự khác biệt giữa Khoa học và Nghệ thuật - Khoa HọC NộI Dung Khoa học và Nghệ thuật Khoa học là gì?Nghệ thuật là gì?Sự khác biệt giữa Khoa học và Nghệ thuật là gì? Sự khác biệt giữa khoa học và nghệ thuật bắt nguồn từ bản chất của các đối tượng được nghiên cứu. Giờ đây, việc tin vào sự phân đôi giữa các môn học giữa khoa học và nghệ thuật và dán nhãn một môn học là thuộc về khoa học hoặc dòng nghệ thuật có vẻ rất dễ dàng và gần như tự nhiên. Chúng ta biết đâu là môn học thuộc dòng khoa học và môn nào thuộc dòng nghệ thuật. Mặc dù thời thế đang thay đổi, và sự tiến bộ ở khắp mọi nơi, vẫn có những nền văn hóa nơi các môn khoa học được cho là tốt cho các bé trai trong khi các bé gái được coi là phù hợp với các môn nghệ thuật. Chúng ta biết nhiều điều này, và có lẽ còn nhiều hơn thế nữa, nhưng khi nói đến sự khác biệt giữa các luồng khoa học và nghệ thuật, hầu hết chúng ta đều bỏ trống. Trên thực tế, đó là một tình huống khó xử đối với nam sinh và nữ sinh sau khi họ vượt qua kỳ thi 10 + 2 để lựa chọn giữa các luồng khoa học và nghệ thuật. Bài viết này, bằng cách cố gắng phân biệt giữa khoa học và nghệ thuật, hy vọng sẽ giúp ích cho những học sinh như vậy. Chúng tôi cũng sẽ cố gắng hiểu sự khác biệt giữa khoa học và nghệ thuật thông qua một số ví dụ. Khoa học là gì?Khoa học là một môn lý thuyết nghiên cứu về môi trường xung quanh chúng ta bao gồm các sinh vật sống ở đó. Nó nghiên cứu cách mọi thứ hoạt động và cách một thứ gì đó ra đời. Hãy để chúng tôi tham gia một hoạt động có thể giúp bạn hiểu khoa học là gì. Cung cấp cho các phân tử oxy và hydro và cung cấp tất cả các cơ sở để làm cho các phân tử này tương tác theo một quy trình đã định để tạo ra nước. Bạn sẽ thấy rằng mọi người cố gắng tạo ra nước phải theo cùng một quy trình; nếu không thì anh ta không thể hy vọng tạo ra nước từ các phân tử hydro và oxy. Những gì chúng ta có thể hiểu từ thí nghiệm này là điều này. Nếu chúng ta có cùng một đầu vào và cùng một quy trình để đạt được đầu ra, thì đầu ra sẽ luôn giống nhau, đồng nhất và được tiêu chuẩn hóa. Đây là khoa học, và đây là quy trình mà qua đó chúng tôi có được những sản phẩm được tiêu chuẩn hóa trên khắp thế chúng ta nghĩ về mọi thứ ở dạng thực tế, thì mọi thứ đều là khoa học. Điều này là do ngay cả chiếc lá xanh đẹp đẽ có trên cây cũng không được thêm vào nó chỉ để thêm vẻ đẹp cho môi trường. Ở đó cung cấp thức ăn cho cây thông qua quá trình quang hợp. Tuy nhiên, những nhà khoa học và toán học vĩ đại nhất, những người có tầm nhìn và đưa ra những sáng tạo mới thực sự là những nghệ sĩ. Phần còn lại chỉ là các nhà khoa học khi họ làm theo những gì đã được nói và viết. Một nhà khoa học cố gắng biện minh cho những sáng tạo của mình. Cơ sở của sự biện minh là sự trình bày các quá trình tự nhiên cho một sáng tạo khoa học. Khoa học là sự giải thích về những điều tự nhiên mà chúng ta có thể nhìn và nghe hoặc cảm nhận được. Tổ tiên của chúng ta không biết sự thật đằng sau ánh sáng và họ sợ hãi hoặc liên kết nó với sức mạnh siêu nhiên. Nhưng, vì sự lịch sự của khoa học, đặc biệt là các nguyên lý vật lý, chúng ta biết tất cả những gì đằng sau sự sáng lên như một quá trình tự nhiên. Điều này không có nghĩa là những hiện tượng không thể giải thích thông qua khoa học không tồn tại. Những gì khoa học ngày nay không thể giải thích vẫn nằm trong lĩnh vực nghệ thuật, hay siêu hình học như cách gọi của thuật là gì?Nghệ thuật là một lĩnh vực chủ đề rất tự do, nơi bạn có thể quan sát môi trường, sinh vật cũng như suy nghĩ của chính chúng ta. Chúng tôi có thể chọn hiển thị chúng theo bất kỳ cách nào chúng tôi muốn. Dưới đây là một số ví dụ để giúp bạn hiểu nghệ thuật là gì. Đưa một tờ giấy, đủ màu sắc và bút lông và yêu cầu những người khác nhau vẽ một bức tranh núi đá từ xa. Bạn sẽ nhận được càng nhiều câu trả lời cho câu hỏi bạn đặt ra cũng như nhiều người cố gắng trả lời. Điều này là do mỗi người có nhận thức cá nhân của riêng mình về Rocky Mountains, và do đó, sử dụng các hỗn hợp màu sắc khác nhau để tạo ra một bức ảnh mà anh ấy cảm thấy phù hợp nhất với bản gốc. Cung cấp thép, lốp xe, động cơ và tất cả các bộ phận bên trong và nhờ những người khác nhau chế tạo xe hơi. Bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy có rất nhiều chiếc xe trông khác nhau lại có những người chấp nhận thử gì các thí nghiệm này chứng minh rõ ràng là chúng ta có thể tạo ra một thứ bằng cách sử dụng cùng một đầu vào và các quy trình khác nhau. Đầu ra không chuẩn và phụ thuộc vào nhận thức của mọi người. Đây là những gì chúng tôi gọi là nghệ thuật. Có rất nhiều sản phẩm trên thị trường được sản xuất theo các nguyên tắc khoa học, nhưng chúng tôi thích những sản phẩm được làm ra trông đẹp mắt và thẩm mỹ hơn. Đây là nơi khoa học và nghệ thuật kết hợp với nhau trong việc tạo ra một sản phẩm. Chiếc xe là một ví dụ hoàn hảo cho điều chúng ta nghĩ một cách thông minh, tất cả mọi thứ đều là nghệ thuật bởi vì ngay cả một chiếc lá của cây cũng được cấu tạo để có màu sắc và hình thức đẹp phù hợp với môi trường. Mỗi nghệ sĩ đều cố gắng biện minh cho sáng tạo của mình. Cơ sở của sự biện minh được nghĩ đến trong trường hợp của một nghệ khác biệt giữa Khoa học và Nghệ thuật là gì?• Tính khách quan và chủ quan• Khoa học là khách quan.• Nghệ thuật là chủ quan.• Lý thuyết và khái niệm• Khoa học là lý thuyết.• Nghệ thuật là khái niệm.• Thiên nhiên• Khoa học dựa trên các lý thuyết và giả thuyết và mọi hiện tượng hoặc thiết bị đều có thể được giải thích thông qua khoa học.• Nghệ thuật không cần chứng minh, không thể chứng ảnh Lịch sựKhoa học qua Pixabay Miền công cộngĐồ chơi nghệ thuật Anamorphic của Myrna Hoffman của Myrna Hoffman CC BY-SA
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘITRỊNH TỐ LOANNGHỆ THUẬT SO SÁNH TRONG TIỂU THUYẾTĐOẠN TUYỆT CỦA NHẤT LINHChuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đạiMã số 60 22 01 21LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂNNgười hướng dẫn khoa học TS Trần Văn ToànHÀ NỘI - 2015LỜI CẢM ƠNLời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất tớiTS. Trần Văn Toàn – Người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tác giảtrong suốt quá trình học tập và thực hiện luận giả trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu trường Đại học sư phạm HàNội, ban Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, các thầy cô giáo bộ môn đã tham giagiảng dạy, truyền đạt kiến thức, hướng dẫn khoa học, đóng góp ý kiến quýbáu và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tại trường cũng như quá trìnhthực hiện luận cùng tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ,động viên nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt để tác giả hoàn thànhtốt chương trình học tập và nghiên cứu đề tài khoa học Nội, tháng 10 năm 2015Tác giảTrịnh Tố LoanMỤC LỤCMỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề Văn học Việt Nam hiện đại 1930- 1945 là dấu mốc quan trọngtrong toàn bộ tiến trình văn học nước nhà. Mặc dù chỉ tồn tại trong khoảng 15năm nhưng văn học Việt Nam hiện đại đã để lại cho hậu thế một khối lượngtác phẩm đồ sộ gắn liền với nó là những phong cách nghệ thuật độc đáo trongcả thơ lẫn văn xuôi. Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930- 1945, Tự lựcvăn đoàn là "nhóm quan trọng nhất và là nhóm cải cách đầu tiên của nền vănhọc Việt Nam hiện đại" Hoàng Xuân Hãn.Tự Lực văn đoàn là một tổ chức của các nhà văn chuyên nghiệp doNguyễn Tường Tam Nhất Linh khởi xướng và bắt đầu hình thành vào cuốinăm 1932, chính thức tuyên bố thành lập vào Thứ Sáu, ngày 2 tháng 3 năm1934 tuần báo Phong Hóa số 87. Đây là một tổ chức văn học đầu tiên của ViệtNam mang đầy đủ tính chất một hội đoàn sáng tác theo nghĩa hiện đại, và là mộttổ chức văn học đầu tiên trong lịch sử văn học của dân tộc Việt do tư nhân chủxướng. Với khoảng 10 năm 1932 - 1942 tồn tại, văn đoàn ấy với những sángtác văn học, hoạt động báo chí, xuất bản sách, trao giải thưởng, tạo nhiềuảnh hưởng đến văn học và xã hội Việt Nam ở thời kỳ Tự lực văn đoàn, Nhất Linh là người sáng lập, người điều hành,đồng thời cũng là cây bút trụ cột của nhóm. Mặc dù sáng tác không nhiều,nhưng Nhất Linh đã "vạch ra một con đường riêng", cách tân mạnh bạo trongcác sáng tác cả về nội dung và nghệ thuật, góp phần tạo danh tiếng cho tổchức văn học Nhất Linh và Tự lực văn đoàn "đã có những đóng góp lớn vàonghệ thuật tiểu thuyết và tính hiện đại của tiểu thuyết, đóng góp vào câu văncủa dân tộc với lối văn trong sáng và rất Việt Nam" Huy Cận. Một trongnhững đóng góp đó của Nhất Linh chính là nghệ thuật so nghiệp văn học của Nhất Linh đã được nhiều người quan tâmnghiên cứu. Tuy nhiên, trong số những công trình nghiên cứu về sự nghiệpvăn học của ông đã công bố, chưa có công trình nào tập trung tìm hiểu sâu về“Nghệ thuật so sánh trong tiểu thuyết của Nhất Linh”. Vì lẽ đó mà chúng tôilựa chọn đề tài này làm đối tượng nghiên cứu của luận Lịch sử vấn Nghiên cứu về Nhất LinhNgay từ khi mới ra đời, tác phẩm của Nhất Linh chưa bao giờ thôi hấpdẫn người đọc và các nhà nghiên cứu. Những công trình nghiên cứu về NhấtLinh khá phong phú và đa dạng, có thể điểm qua những công trình tiêu biểunhư sauCuốn Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hoá văn học của Vu Gia củaNxb Văn hoá thông tin 1995, là tập hợp các bài nghiên cứu về cuộc đời, sựnghiệp văn học của Nhất Linh và nhóm Tự lực văn đoàn trong tiến trình hiệnđại hoá văn học Việt Nhất Linh - cây bút trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn của nhiều tácgiả do Mai Hương tuyển chọn, biên soạn của Nxb Văn hoá Thông tin 2000 ấnhành, là tập hợp những bài nghiên cứu, những bài viết về cuộc đời và vănnghiệp của nhà văn Nhất Linh với ba phần Nhất Linh - phác thảo chân dungvà văn nghiệp. Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Nhất Linh. Nhất Linh trongbạn bè, đồng nghiệp và người Anh em Nguyễn Tường Tam, Nhất Linh - ánh sáng và bóng tối củaKhúc Hà Linh, Nxb Thanh niên 2008 là cuốn khảo cứu về một số tác phẩm tiêubiểu của tự lực văn đoàn, về vùng đất và các tác giả Tự lực văn Tiến Quỳnh có cuốn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, ThạchLamTuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình - bình luận văn học của cácnhà văn và các nhà nghiên cứu Việt Nam , Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh21999 đã giới thiệu những bài phê bình bình luận văn học của các nhà văn vàcác nhà nghiên cứu Việt Nam về phong cách sáng tác của các tác giả NhấtLinh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Nhất Linh con người và tác phẩm của Lê Cẩm Hoa, Nxb Văn học2000 giới thiệu một số bài viết về Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Tóm tắtvà trích một số tác phẩm tiêu biểu của Nhất Linh như Hai vẻ đẹp, Đoạn tuyệt,Lạnh lùng, Đôi bạn...Bên cạnh đó những công trình như Vấn đề chống lễ giáo phong kiếntrong tiểu thuyết của Nhất Linh Tác giả Nguyễn Thị Hương ; Ngôn ngữnghệ thuật của Nhất Linh trong các sáng tác trước năm 1945 Tác giả Lê ThịQuỳnh; Đặc điểm diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn của Nhất Linh vàKhái Hưng Tác giả Nguyễn Đăng Vy, Nam tính hóa nữ tính - đọc Đoạntuyệt của Nhất Linh từ góc nhìn giới tính và Diễn ngôn về giới tính và thipháp nhân vật Trường hợp Dũng trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh của TrầnVăn Toàn … đã góp phần soi sáng những nét nghệ thuật nổi bật trong tiểuthuyết của Nhất từ cao trào đổi mới, Nhất Linh và những sáng tác của ông đã trởthành đối tượng nghiên cứu của một loạt những luận án, luận văn. Năm 1994,với đề tài “Quan niệm về con người trong tiểu thuyết của tự lực văn đoàn quaba tác giả Nhất Linh - Khái Hưng - Hoàng Đạo, Lê Thị Dục Tú đã miêu tảkhá thuyết phục những đóng góp độc đáo cũng như những hạn chế lịch sửtrong thế giới nghệ thuật của ba nhà văn tiêu biểu của Tự lực văn đoàn, đồngthời cho thấy vị trí quan trọng của ba nhà văn trong tiến trình văn học hiện đạicủa dân tộc. Luận án của Vũ Thị Khánh Dần Tiểu thuyết của Nhất Linhtrước cách mạng tháng Tám năm 1996 Viện văn học đã giới thiệu được vàinét về thời đại lịch sử, xã hội, con người và quan niệm văn chương của NhấtLinh, những tìm tòi và sáng tạo của Nhất Linh trong quá trình hiện đại hóa thể3loại tiểu thuyết và đặc biệt quan tâm tới tiểu thuyết luận đề. Luận án Tiến sĩcủa Đỗ Hồng Đức Nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Nhất Linh và KháiHưng, năm 2010 đã tìm hiểu giá trị của nhân vật nữ trong tiểu thuyết củaNhất Linh và Khái Hưng thời kỳ Tự lực văn đoàn trên cả hai phương diệnnội dung và nghệ thuật nhằm làm rõ diện mạo của nhân vật nữ với những dấuấn đậm nét về tư tưởng và nhìn từ góc độ nghệ thuật thể hiện. Từ những côngtrình nghiên cứu về Nhất Linh có thể thấy tác phẩm của Nhất Linh đã đượcnghiên cứu ở các phương diện sau• Nghệ thuật xây dựng nhân vật dưới các góc độ Thi pháp, giới tính,chính trị, xã hội, triết học, mĩ học.• Vấn đề chống lễ giáo trong tiểu thuyết Nhất Linh ở nhiều bình diệnkhác nhau, khẳng định tư tưởng tiến bộ của nhà văn trong công cuộc đấutranh giải phóng cá nhân, đặc biệt là giải phóng người phụ nữ khỏi sự kiềmtỏa của lễ giáo phong kiến.• Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh để thấy sự vận độngcủa ngôn ngữ trước và sau khi tham gia Tự lực văn đoàn từ đó đánh giá mộtsố đặc sắc trong ngôn ngữ nghệ thuật của Nhất Linh.• Gần đây dưới sự soi chiếu của lý thuyết Diễn ngôn, các nhà nghiêncứu đã nghiên cứu tác phẩm của Nhất Linh từ góc nhìn Diễn ngôn để thấyđược xu hướng cách tân trong xây dựng nhân vật, cách tân trong ngôn ngữnghệ thuật của Nhất Linh nói riêng và Tự lực văn đoàn nói Nghiên cứu về nghệ thuật so Trong quá trình giao tiếp hàng ngày, để lời nói tăng thêm tính thuyếtphục, gợi cảm chúng ta thường sử dụng biện pháp so sánh như “Hoa cao hơnmẹ”, “mưa như trút nước”, “chậm như rùa”…. Việc dùng thủ pháp so sánh làmtăng tính hình tượng cho lời nói, đồng thời giúp cho quá trình tri nhận đối tượng4được cụ thể, rõ ràng hơn. Tuy nhiên, mục đích sử dụng biện pháp so sánh tronglời nói hằng ngày và trong tác phẩm văn chương có sự khác nhau. Để hiểu rõhơn những giá trị nghệ thuật của so sánh tu từ cần phân biệt so sánh tu từ Sosánh nghệ thuật và so sánh luận lí So sánh logic, ví dụ1 Tóc của Hoài dài như tóc của Hương. Khẩu ngữ2 Lần này là lần nàng về hẳn, như con chim bay về tổ cũ Đoạntuyệt, Nhất LinhTrong hai ví dụ trên thì ví dụ 1 là so sánh logic còn ví dụ 2 là so sánhtu từ. Chúng phân biệt nhau ở tính hình tượng, tính biểu cảm, tính dị loại vàmục đích của việc so sánh. Trong ví dụ 1, tóc của Hoài và tóc của Hương làhai đối tượng cùng loại - tóc, còn trong ví dụ 2 là hai đối tượng khác loạinàng - người được so sánh với chim - vật. So sánh trong ví dụ 1 nhằm đưara một phán đoán tác động vào nhận thức người đọc nên trung hòa sắc tháibiểu cảm, còn so sánh trong ví dụ 2 lại giàu tính hình tượng và biểu đọc sẽ thấy thú vị khi Nhất Linh so sánh Loan như con chim bay về tổcũ từ đó người đọc dễ dàng tưởng tượng ra niềm vui, sự hồi sinh của Loan khiđoạn tuyệt với gia đình chồng. Các đối tượng trong ví dụ 1 có thể hoán đổi vịtrí cho nhau mà nghĩa không thay đổi, còn các đối tượng của ví dụ 2 có thểhoán đổi vị trí cho nhau nhưng nghĩa hoặc sẽ thay đổi hoặc câu trở nên vô lí1 Tóc của Hương dài như tóc của Hoài +2 Như con chim bay về tổ cũ, lần này là lần nàng về hẳn.-Với những tiêu chí khác biệt như trên mà so sánh tu từ được xem làmột phương tiện hữu hiệu làm tăng thêm giá trị cho tác phẩm nghệ các tác phẩm của mình, Nhất Linh đặc biệt thích sử dụngnghệ thuật so sánh. Cấu trúc so sánh trong tác phẩm Nhất Linh luôn biến hóađa dạng, độc đáo và bất ngờ. Tất cả sự vật, hoạt động, trạng thái, tính chất, sựtình, sự việc… được Nhất Linh đưa vào trong trường so sánh của mình trở5thành đối tượng được so sánh. Song chưa có một công trình nào nghiên cứuchuyên sâu về nghệ thuật so sánh của Nhất Linh, mà mới chỉ có những ý kiếnđánh giá, đáng chú ý là các ý kiến sauTrong tiểu luận “Hạnh phúc trong tác phẩm Nhất Linh”, nhà nghiêncứu Đặng Tiến nhận thấy “trong những đoạn miêu tả thiên nhiên, ngoại giớicủa Nhất Linh có một chữ như, chữ như chìa khóa đưa vào không gian NhấtLinh, chữ như làm môi giới giữa sắc và không, giữa thực tế và cảm giác, giữangoại giới và nội tâm. Nhân vật của Nhất Linh sống trong không gian khôngphải của ngoại giới mà trong không gian của nội tâm. Có thể nói nhân vậtNhất Linh chiếm lĩnh thiên nhiên, ngoại giới bằng cảm giác, đồng hóa thiênnhiên trong cảm giác, trong một thế giới nội tâm phong phú và tinh tế”Hạnhphúc trong tác phẩm Nhất Linh, Đặng Tiến.Trong cuốn Nhất Linh - cây bút trụ cột của Tự lực văn đoàn, BạchNăng Thi nhận xét “… Cho nên văn Nhất Linh vừa rành mạch, trong sángvừa có nhạc điệu có hình ảnh. Nó diễn tả được những cảm giác tinh vi. Nó sửdụng các so sánh cụ thể, có khả năng tạo hình tượng và gợi cảm. Những cảnhdựng nên thường chỉ thoáng qua thôi và chỉ chiếm mấy dòng chữ nhưng lại ănnhịp với tâm trạng nhân vật”.Như vậy có thể thấy, trong các công trình nghiên cứu về Nhất Linh mớichỉ có những đánh giá khái quát, chưa tường giải, đi sâu phân tích các cấutrúc so sánh cụ thể để đánh giá năng lực sáng tạo của nhà văn cũng như đónggóp của Nhất Linh đối với quá trình hiện đại hóa ngôn ngữ trong tiểu thuyếthiện đại. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài“Nghệ thuật so sánhtrong tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh” với mong muốn làm rõ thêm mộtkhía cạnh nghệ thuật được xem là góp phần quan trọng tạo nên sự thành côngtrong các sáng tác của Nhất Đối tượng và phạm vi nghiên cứu* Đối tượng nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là tìm hiểu nghệ thuật sosánh trong tiểu thuyết Đoạn Tuyệt của Nhất Linh - một trong những tác phẩmghi dấu ấn đậm nét của nhà văn trên văn đàn.* Phạm vi nghiên cứuVới đề tài này, luận văn tập trung khảo sát các cấu trúc so sánh trongtiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh, từ đó có những tìm tòi phát hiện đểđánh giá những đóng góp của Nhất Linh đối với quá trình hiện đại hóa ngônngữ Tiếng Đóng góp của luận vănLuận văn mong muốn cung cấp thêm một cách tiếp cận, lí giải tácphẩm văn chương từ góc độ ngôn ngữ mà cụ thể là nghệ thuật so sánh qua đógóp phần nhận diện sự vận động của văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỉ nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật của Tự lực văn đoàn cũng như vănxuôi nghệ thuật đã có nhiều thành tựu quan trọng nhưng chủ yếu vẫn có tínhchất định tính. Luận văn hướng đến một nghiên cứu mang tính định lượngnhằm nhận thức một cách chính xác và tường giải hơn cho lĩnh vực này. Dochỗ hình thức và nội dung trong tác phẩm là một thể thống nhất nên nếu thựchiện tốt nhiệm vụ này, luận văn cũng sẽ đóng góp những kiến giải sâu sắc vềnhững giá trị nội dung và tư tưởng của tác Phương pháp nghiên cứuĐể nghiên cứu đề tài này, luận văn sử dụng những phương pháp nghiêncứu sau đây- Phương pháp liên ngành- Phương pháp đối chiếu, so ra luận văn còn sử dụng các thao tác nghiên cứu như- thống kê - phân phân tích - tổng Kết cấu luận vănGồm 3 chươngChương 1 Những vấn đề lí luận chungChương 2 So sánh với chức năng khắc họa những xung đột xã hộiChương 3 So sánh với chức năng miêu tả thiên nhiên và nhân vật8NỘI DUNGChương 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN Quan niệm chung về so sánh tu từĐể chiêm ngưỡng thế giới muôn màu con người chỉ cần “thức nhọn mọigiác quan” nhưng để nhận thức chúng thì chúng ta phải sử dụng đến các thao táccủa tư duy và so sánh là một trong những thao tác đầu tiên cần có. Hiểu mộtcách đơn giản, so sánh là đem đối chiếu sự vật này với sự vật khác nhằm tìm ranét tương đồng và khác biệt. Trong ngôn ngữ học, so sánh là một trong nhữngbiện pháp tu từ ngữ nghĩa có tác dụng nâng cao hiệu quả giao tiếp. Trong vănhọc, chất liệu chính lại là ngôn từ nên so sánh được coi là một biện pháp nghệthuật có vai trò kiến tạo hình ảnh, biểu tượng qua đó làm tăng hiệu quả thẩm mĩcho tác phẩm văn chương, thể hiện những nét độc đáo trong phong cách nghệthuật của nhà văn. Sự sáng tạo và năng lực của nhà văn thể hiện ở việc chiếmlĩnh thế giới khách quan để xây dựng thành hình ảnh, biểu tượng mang dấu ấnriêng của tác giả. Thông qua hình ảnh, biểu tượng của trường so sánh ở vế B cái được so sánh mà nhân vật trong tác phẩm được khắc họa rõ nét về cả ngoạihình và tính cách. Mặt khác, tìm hiểu nghệ thuật so sánh trong tác phẩm khôngchỉ giúp người đọc rung động trước cái hay, cái đẹp của ngôn từ mà còn có thểhiểu được những nội dung tư tưởng của tác phẩm, hiểu được những nét đặctrưng về văn hóa của thời đại - một trong những cơ sở để tiếp cận, giải mã tácphẩm văn chương một cách toàn diện, sâu về nghệ thuật so sánh, Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặcđiểm tu từ tiếng Việt quan niệm "So sánh tu từ là cách công khai đối chiếuhai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nét giốngnhau nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng"9[ Như vậy, so sánh chính là đối chiếu. Để quá trình so sánh xảy ra,người ta cần ít nhất hai đối tượng cùng tham gia và giữa hai đối tượng nàyphải có nét tương đồng. Đối chiếu để "diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm củađối tượng" tức có nghĩa làm cho đối tượng trở nên rõ ràng hơn. Như thế, nộihàm của khái niệm trên không chỉ bao hàm phương thức so sánh tu từ mà cònbao hàm các kiểu so sánh logic. Định nghĩa trên của Cù Đình Tú chưa nêuđược chức năng thẩm mĩ của so sánh - một chức năng cần thiết mà nó phải cókhi trở thành phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn học. Tuy nhiên, trongcuốn sách này, ông cũng đã trình bày được nhiều kiểu so sánh cơ bản và bướcđầu chỉ ra được chức năng nhận thức và biểu cảm của so sánh tu bổ sung cho định nghĩa trên, trong cuốn Tiếng Việt tập II, NxbGiáo dục, năm 1995, tác giả Đinh Trọng Lạc phát biểu một cách rõ ràng, cụthể về so sánh tu từ "So sánh tu từ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong đóngười ta đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác nhau nhưng giống nhau ởmột điểm nào đó chứ không đồng nhất hoàn toàn, để đem đến một cách trigiác mới mẻ về đối tượng" [ Đặc biệt, Nguyễn Thái Hòa và ĐinhTrọng Lạc trong công trình Phong cách học Tiếng Việt Nxb GD, 1995 mộtlần nữa khẳng định “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vậtnày đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tươngđồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trongnhận thức của người đọc và người nghe” [tr 190]. Như vậy, so sánh chính lànghệ thuật của ngôn từ nhằm "gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúcthẩm mĩ trong nhận thức của người đọc và người nghe". Để hình tượng sốnglâu trong lòng người đọc, những cảm xúc thẩm mĩ mà so sánh tu từ mang lạiquả là quan trọng. Nó không chỉ dừng lại ở mức độ "cụ thể hóa" đối tượng,làm cho đối tượng dễ hình dung, dễ tri nhận, nó còn gợi lên trong lòng ngườiđọc điều mà họ luôn mong chờ khi đón đọc tác phẩm văn học là sau khi gấp10cuốn sách lại, hình tượng văn học đã bước ra ngoài tác phẩm, trở thành mộtphần trong tâm hồn Cấu trúc của so sánh tu từĐịnh nghĩa về so sánh, so sánh tu từ cũng như cấu trúc của so sánh cóđiểm chung khá thống nhất ở các nhà nghiên cứu. Tuy có chút khác nhau vềtên gọi, song hầu hết các công trình nghiên cứu đều thống nhất cấu trúc đầyđủ của so sánh tu từ gồm có 4 yếu Đinh Trọng Lạc, Bùi Minh Toán trong cuốn Tiếng Việt tập II, haitác giả đưa ra cấu trúc chung của các kiểu so sánh gồm 4 yếu tố chính+ Yếu tố 1 yếu tố được/ bị so sánh+ Yếu tố 2 Yếu tố chỉ phương diện so sánh+ Yếu tố 3 Yếu tố chỉ quan hệ so sánh+ Yếu tố 4 Yếu tố so sánh, là yếu tố được dùng làm chuẩn khi so một chút với cách chia trên là cách chia của Hữu Đạt trongPhong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội năm 1999. Đặcbiệt, cách chia của Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong công trìnhPhong cách học Tiếng Việt Nxb Giáo dục 1995 có phần dễ hiểu, dễ áp dụngtrong nghiên cứu tác phẩm văn học. Tác giả cho rằng, trong cấu trúc so sánhgồm bốn yếu tố Cái so sánh CSS được gọi là yếu tố 1; Cơ sở so sánhCSSS được gọi là yếu tố 2 hay chính là phương diện so sánh; từ so sánhđược gọi là yếu tố 3 TSS và Cái được so sánh CĐSS là yếu tố luận văn này, chúng tôi chủ yếu dựa theo cấu trúc so sánh củatác giả Nguyễn Thái Hòa - Đinh Trọng Lạc và gọi tắt các yếu tố 1, 2, 3, 4 lầnlượt là AnxB. Cấu trúc đầy đủ của phép so sánh làCSSABuổi chiềuCSSSnquắt lạiTSSxnhư11CĐSSBmặt người ốm dậySau đây, chúng tôi sẽ tiến hành miêu tả lần lượt các yếu tố trong cấutrúc theo vị trí, hình thức cấu tạo từ loại và chức năng biểu hiện của Yếu tố 1 A - Cái so sánh CSS* Vị tríYếu tố 1 đứng trước ba yếu tố còn lại, đứng đầu câu, thường đứng ngaysau chủ ngữ hoặc thuộc về chủ ngữ. Tuy nhiên, tùy thuộc vào hình thức từloại của nó, kiểu câu, ý nghĩa biểu hiện mà nó có vị trí khác nhau trong dụ như muốn nhấn mạnh tới CSS, nó có thể được đảo vị trí xuống sau cáiđược so sánh CĐSSVí dụ 1 Như đám mây màu lam, khói vờn tỏa trên những nóc nhà."khói vờn tỏa trên nóc nhà" là CSS. "Như đám mây màu lam" là phôngnền, bối cảnh dùng để nổi bật CSS. Tuy nhiên, khi đảo trật tự như vậy, thuộctính "màu lam" của khói được nhấn mạnh, tạo hiệu quả rõ rệt trong tri nhận,cảm thụ nghệ thuật của người tiếp nhận. HoặcVí dụ 2Hãy sáng mãi niềm tin tươi ánh thépNhư quê em Gò Nổi, Kỳ LamHỡi em người con gái Việt NamNgười con gái Việt Nam - Tố HữuCSS ở đây là "Người con gái Việt Nam" - chị Lý được đảo vị trí xuốngsau CĐSS là "quê em Gò Nổi, Kỳ Lam" nhằm nhấn mạnh, ngợi ca đến thuộctính "niềm tin tươi ánh thép" mà chị Lý thừa hưởng từ quê hương tố CSS có thể biến mất khỏi cấu trúc so sánh hay biểu thức ngônngữ so sánh. Căn cứ vào ngữ cảnh câu văn mà người nghe, người đọc có thểnhận diện ra dụ 3 Cháu ra ngoài mà ngủ. Như cái chợNgười nghe, người đọc hiểu rằng Cảnh ở nơi người cháu đang tồn tạirất ồn ào "như cái chợ" không thích hợp với việc "ngủ". Tuy CSS có thể là12trong nhà, trong này, ngoài này... được ẩn đi nhưng người đọc vẫn có thểngầm hiểu được A hay CSS ở đây là gì.* Cấu tạo từ loạiCSS được cấu tạo bởi danh từ hoặc cụm danh từ; động từ hoặc cụmdanh động từ.+ Danh từ hoặc cụm danh từDanh từ là những từ chỉ sự vật người, vật, hiện tượng, khái niệm, đơnvị được chia thành nhiều loại với những chức năng riêng Danh từ chung,danh từ riêng; danh từ chỉ cái cụ thể, danh từ chỉ cái trừu tượng; Danh từ chỉhiện tượng; danh từ chỉ đơn vị...Ví dụ 4Cho tôi hôn bàn tay em lạnh ngắtCho tôi hôn bàn tay em nắm chặtÔi bàn tay như đôi lá còn xanhNgười con gái Việt Nam - Tố HữuCụm danh từ là phần kết hợp giữa danh từ và phụ ngữ. Tùy vào vị trícủa các phụ ngữ đứng trước hay sau danh từ được bổ sung ý nghĩa về sốlượng, vị trí, đặc điểm khác nhau.+ Động từ hoặc cụm động từĐộng từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật. Tuy nhiên cónhững động từ vốn để chỉ hoạt động nhưng lại dùng để chỉ trạng thái hoặcngược dụ 5 "Một người lính quát một tiếng, thế là cả cái dòng người ấy tantác ra như một đàn ruồi ở sau mông con bò, lúc bị cái đuôi bò đập một cái vậy"Giông tố - Vũ Trọng PhụngCụm động từ là sự kết hợp giữa động từ và các phụ từ. Các phụ từ nàynếu đứng đằng trước nhằm bổ sung ý nghĩa về quan hệ thời gian, sự tiếp diễn13tương tự, sự khuyến khích, ngăn cản, khẳng định hoặc phủ định... Nếu đứngđằng sau động từ, nó giúp bổ sung cho động từ chi tiết về hướng, địa điểm,mục đích, nguyên nhân, phương tiện...Ví dụ 6 "Nghe lời có lý, cái bọn bốn năm chục người đương lôi thôi,lốc thốc cắm đầu cắm cổ bước đi một cách buồn rầu như đàn cừu ấy, bỗngbảo nhau đứng dừng cả lại"Vỡ đê - Vũ Trọng Phụng+ Cụm danh động từ hay cụm chủ - vịCụm danh động từ được cấu tạo bởi sự kết hợp giữa danh từ hay cụmdanh từ và động từ tạo thành một cụm chủ - vị hoàn chỉnh, giữ chức năng làtrạng ngữ, chủ ngữ hoặc vị ngữ trong dụ 7 "Ông già lắc đầu thất vọng như phải có việc với một thằngngu, một kẻ hoàn toàn bỏ đi nên nguây nguẩy"Lấy nhau vì tình - Vũ Trọng Phụng* Chức năngKhi CSS là danh từ hoặc cụm danh từ, nó giữ vai trò là chủ ngữ trongcâu, làm chủ thể của những đặc điểm, hành động được miêu tả, so sánh ởtrong có thể biểu thị những đối tượng cụ thể, có thể tri giác, cảm giácđược một cách nhanh chóng, rõ ràng như người, vật, hành động cụ dụ 8Súng nổ rung trời giận giữNgười lên như nước vỡ bờĐất nước - Nguyễn Đình ThiCSS cũng có thể biểu thị những đối tượng trừu tượng như ý niệm, kháiniệm, tình cảm14Ví dụ 9Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rétTình yêu ta như cánh kiến hoa vàngNhư xuân đến chim rừng lông trở biếcTiếng hát con tàu - Chế Lan Viên Yếu tố 2 - Cơ sở so sánh n* Vị tríTrong cấu trúc so sánh, CSSS là thuộc tính của CSS. Nó có thể là trạngthái, hành động, tính chất của CSS. Và nó cũng là phần giao nhau giữa CSS vàCĐSS. Yếu tố 2 thường đứng ngay sau yếu tố 1, trước từ dùng để so sánh và cáiđược dùng để so sánh. Tuy nhiên yếu tố 2 cũng có thể được đảo lên đầu, đượcđưa xuống cuối cấu trúc so sánh hoặc có thể biến mất cùng với dụ 1Người giai nhân bến đợi dưới cây giàTình du khách thuyền qua không buộc chặtXuân DiệuKhi bị ẩn đi, người tiếp nhận vẫn nhận thấy vùng giao thoa thuộc tính giữathực thể so sánh và cái được so sánh Với người giai nhân và bến đợi thì đó chínhlà sự thủy chung, đợi chờ, mòn mỏi; với tình du khách và thuyền qua không buộcchặt đó chính là sự hờ hững, phiêu lưu, thiếu thủy chung, dễ thay đổi...Trong thực tế, CSSS hay phương diện so sánh thường khuyết thiếucùng với thực thể được so sánhVí dụ 2Như diều gặp gióNhư nước vỡ bờNhư muối bỏ bểThành ngữhoặc khuyết thiếu cùng với từ chỉ kết quả so sánh như ví dụ 1 ở Hình thức cấu tạoBởi là thuộc tính của A, chỉ trạng thái, tính chất, hành động của A nênCSSS khi xuất hiện ở hình thức cấu tạo là động từ hoặc tính từ.+ Động từVí dụ3Như đỉnh non cao tự giấu mìnhTrong rừng xanh lá ghét hư vinhChỉ lo muôn mối như lòng mẹCho hôm nay và cho mai sauBác ơi - Tố HữuĐộng từ "tự giấu mình", "ghét hư vinh" ngầm chỉ và ngợi ca đức tínhgiản dị, không thích phô trương, không ưa hào nhoáng và ghét hư vinh củaBác câu văn, cơ sở so sánh khi là động từ, cùng với trạng ngữ củacâu, nó cũng chỉ ra được thời gian diễn ra sự so dụ 4Anh đội viên mơ màngNhư nằm trong giấc mộngMinh HuệTừ ngữ "mơ màng" chỉ hành động đang xảy ra ngay tại thời điểm khiđược Bác Hồ đi dém chăn, người đội viên sung sướng lâng lâng ngỡ mìnhđang ở trong mơ.+ Tính từVí dụ 5Bác lớn như trời đất của taYêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa...Bác ơi - Tố Hữu16* Chức năngCSSS cho biết phương diện, phạm vi, khía cạnh của sự vật, hiện tượng,khái niệm, hành động... được so sánh. Nói cách khác, CSSS là một phần củayếu tố 1, biểu hiện thuộc tính, hành động của CSS và nhiều khi, nó hợp nhấtvới CĐSS như trong ví dụ sauTìm em như thể tìm chimChim ăn bể bắc đi tìm bể đôngCa daoĐồng thời, CSSS còn cho thấy vùng tương đồng giữa A và B trong cấutrúc so sánh. Đôi khi, CSSS có thể được ẩn đi, người đọc dựa vào nét tươngđồng giữa hai yếu tố 1 và 2 để xác định cơ sở so sánh. Kiểu so sánh ẩn điCSSS được các nhà nghiên cứu như Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Đinh TrọngLạc... gọi là kiểu so sánh chìm. Tuy khó nắm bắt nhưng "đứng về mặt nộidung biểu hiện thì so sánh tu từ chìm tạo điều kiện cho sự liên tưởng rộng rãihơn với so sánh nổi, nó kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiềuhơn so sánh nổi" [37; Yếu tố 3 - Từ dùng để so sánh xYếu tố 3 có thể đứng giữa hai thực thể A và B trong câu văn hoặc đứngở đầu câu nhưVí dụ 1 Giống như vệt khói nhờ, nắng vờn qua những màu xanh bóngloáng của một dãy xóm làng cây cối im lìm.Đôi mắt - Nam CaoSong, yếu tố này luôn luôn đứng trước cái được dùng để so sánh B. Đốivới những biểu thức so sánh thiếu B, từ dùng để so sánh thường được kết hợpvới các từ "ấy", "đấy".Ví dụ 2 Cha nói giỏi. Nó còn hơn cả ví dụ trên, từ chỉ kết quả so sánh "hơn cả" không đứng trướcCSS. Trong câu thứ hai, CSS bị khuyết thiếu, căn cứ vào ngữ cảnh câu văntrước mà người tiếp nhận có thể hiểu rằng Nó còn giỏi hơn cha của Hình thức cấu tạoTừ dùng để so sánh được cấu tạo bởi động từ hoặc kết từ.+ Động từ giống, không giống, tựa, hơn, kém, là... có nghĩa biểu thị sựngang bằng, đồng nhất; không ngang bằng, không đồng nhất, mức độ khôngngang bằng... về hình dáng, màu sắc, tính chất+ Kết từ như biểu thị mối quan hệ gắn kết giữa hai hay nhiều đốitượng có chung nét tương đồng về tính chất, mức độ, cách thức, hình thức...* Vai tròTừ dùng để so sánh hay từ chỉ kết quả so sánh cho phép người tiếpnhận biết được sự đồng nhất hay khác biệt của thực thể được so sánh và cáidùng để so sánh. Để biểu thị sự giống nhau, tương đồng nhau, bằng nhauphép so sánh thường dùng các từ ngữ như giống, giông giống, hơi giống,giống hệt, giống như hai giọt nước, giống như in, hao hao giống, giống nhưđúc; như , như thể, như là, hệt như, tựa như, như hệt, y như, tựa hồ, hồ như,na ná; là; bằng, xem bằng, tầy, bao nhiêu - bấy nhiêu, ... hay các ngữ kết cấukiểu phủ định của phủ định như khác gì, không kém gì, chẳng khác gì, khôngkhác, không khác gì, chẳng khác chi, không thua, không thua gì, chẳng kém,kém gì, chẳng kém gì...Ví dụ 3 Con nhà tông không giống lông cũng giống dụ 4 Cuộn len như quả cầu xanh đang lăn những vòng chậm rãi.Ý Nhi - Người đàn bà ngồi đanĐể biểu thị sự khác biệt, chênh lệch, hơn kém, người ta thường dùngcác từ ngữ có ý nghĩa phủ định kết hợp với các từ ở trên hoặc dùng các từ saukhác, nhất - nhì, hơn, kém, không thể nào so sánh được, hơn cả, hơn tất cả,hơn hết thảy, hơn hết, hơn ai hết, không gì hơn, nào bằng, hơn mọi, không cóai hơn thế, chẳng đâu, chẳng ai sánh bằng, nhất....18Ví dụ 5 Xứ Nam nhất chợ Bằng VồiXứ Bắc Vân Khánh, xứ Đoài Hương CanhCa daoTuy nhiên, ở nhiều công trình nghiên cứu hiện nay, từ kết quả so sánh,để cụ thể hơn, người nghiên cứu đã chia các từ dùng để so sánh thành cácnhóm nhỏ sau+ Từ chỉ sự tương ứng, tương đồng như, tựa như, giống...+ Từ chỉ mức độ hơn kém, ngang bằng hơn, kém, nhất, bằng, vừa...+ Từ chỉ sự hô ứng bao nhiêu...bấy nhiêuVí dụ 6Qua cầu ngả nón trông cầuCầu bao nhiêu nhịp em sầu bấy nhiêuCa daoNỗi sầu muộn của người con gái tỉ lệ thuận với số lượng nhịp cầu, qua cặpso sánh hô ứng, nỗi buồn dường như được cụ thể hơn, nhân lên nhiều hơn.+ Từ chỉ sự tăng tiến càng... càngVí dụ 7Bà Typn càng lạy van, nó càng thản nhiên.Số đỏ - Vũ Trọng PhụngQua cặp từ so sánh tăng tiến "càng ... càng", hành động của Xuân TócĐỏ tỉ lệ thuận với sự lạy van của bà Typn cho thấy mức độ giả tạo của bà vàsự trơ tráo của Xuân rất ăn khớp, rất hợp gu với tế, trong luận án Tiến sĩ của Trần Thị Oanh, Hành động so sánhcủa người Việt Năm 2014, các cặp từ bao nhiêu, bấy nhiêu đều được xét đếntrong so sánh đồng nhất, không tách riêng rẽ như trong cách chia trên. Tuynhiên theo chúng tôi, cách hợp nhất như thế cũng rất có lý bởi mỗi mức độ củahành động, trạng thái hay tính chất của thực thể được so sánh gần như ngang19bằng về mức độ với hành động, tính chất, trạng thái của thực thể dùng để sosánh. Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi giữ nguyên cách phân chia ban cấu trúc so sánh, từ dùng để so sánh hay từ biểu thị kết quả sosánh ở trên có thể được thay thế bởi dấu câu như dấu ""; ","; "-".... Đối vớinhững trường hợp này, thường thì CSSS hay phương diện so sánh cũng bịtriệt tiêu. Song, hai yếu tố chính là CSS và CĐSS được giữ dụ 8Người giai nhân bến đợi dưới cây giàTình du khách thuyền qua không buộc chặtXuân DiệuThay vì nói "Người giai nhân như bến đợi dưới cây già/ Tình du kháchnhư thuyền qua không buộc chặt" thì từ dùng để so sánh ở đây đã bị thay thếbởi dấu "" làm cho câu thơ bị chia ra, ngắt nhịp đồng thời cũng để cho ngườiđọc có thể hình dung được hai vế so sánh rất cô đọng, hàm súc.[22/ Yếu tố 4 - Cái được so sánh CĐSS BCái được so sánh hay chính là bối cảnh, là phông nền, là yếu tố đượcdùng làm chuẩn để so sánh. Giữa cái được so sánh và cái dùng làm chuẩn đểso sánh luôn có mối quan hệ tương đồng hoặc khác biệt.* Vị tríCĐSS có thể đứng trước CSS và luôn đi sau từ dùng để so sánh. Tùyvào từng ngữ cảnh và ý muốn nhấn mạnh của câu nói mà B có thể đứng trướchay sau A.* Hình thức cấu tạoCĐSS có thể được cấu tạo bởi danh từ, cụm danh từ, cụm C-V hoặcđộng dụ 1Cày đồng đang buổi ban trưaMồ hôi thánh thót như mưa ruộng càyCa dao20Ví dụ 2 Một mạng lớn giết đi một mạng nhỏ, êm nhẹ như hơi chiềulặng lờ sang.Truyện gã chuột bạch -Tô HoàiVí dụ 3Lão cười như mếu.Lão Hạc - Nam Cao* Vai tròCĐSS là cái được dùng làm chuẩn và thường không thể vắng mặttrong cấu trúc so sánh, quyết định chủ yếu đến giá trị của phép so cũng thường là những thực thể, hành động, trạng thái, tính chất gầngũi nhằm giúp người đọc, người nghe có thể dễ dàng hình dung về lời nói hàng ngày và nhất là trong văn chương nghệ thuật, CĐSS cóvai trò đặc biệt quan trọng trong việc phản ánh tư duy nghệ thuật của tácgiả. Nó mang dấu ấn cảm xúc, thái độ của tác giả, góp phần khẳng địnhphong cách riêng độc đáo của tác thể có một hoặc nhiều hành động, trạng thái được mang ra làmchuẩn để đối chiếu, so sánh với một hoặc nhiều thực thể. Người ta gọi đó làcấu trúc so sánh dạng mở rộng. Những CĐSS ở cấu trúc mở rộng thường cónhững nét tương dụ 4Đàn ông nằm với đàn ôngNhư gốc, như gác, như chông, như chàĐàn ông nằm với đàn bàNhư lụa, như lĩnh, như hoa trên cànhCa daoTrong lời ca dao trên, việc "đàn ông nằm với đàn ông" được so sánhvới hàng loạt những danh từ có sự tương đồng "gốc gác", "chông chà" nhằm21đặc tả sự khô khan, thiếu cảm xúc, bất hợp lý. Ngược lại với điều đó là sựtươi mới, mát mẻ, êm ái, đầy xúc cảm như "lụa", "lĩnh", "hoa trên cành" khi"đàn ông nằm với đàn bà". Thông qua cách so sánh mở rộng, thực thể được sosánh trở nên rõ ràng, dễ nắm bắt Phân loại so sánh tu Tiêu chí phân loạiCó nhiều tiêu chí để phân loại so sánh tu từ song các nhà nghiên cứuchủ yếu phân loại nó dựa trên cấu trúc so sánh để phân thành hai loại so sánhchìm và so sánh nổi. Một số nhà nghiên cứu lại chia so sánh thành các kiểudựa vào từ ngữ dùng để so sánh mà có các loại như so sánh ngang bằng và sosánh hơn kém. Nhà nghiên cứu Đào Thản lại chia so sánh tu từ dựa vào mụcđích của phép so sánh. Theo như tác giả Đào Thản trong Từ ngôn ngữ chungđến ngôn ngữ nghệ thuật, NXb Khoa học Xã hội, 1988, và công trình nghiêncứu của Searle so sánh có các kiểu sau+ So sánh để giải thích+ So sánh để miêu tả+ So sánh để biểu lộ tình cảm+ So sánh để đánh giá+ So sánh liên tiếp+ So sánh phát triển+ So sánh hơn kém+ So sánh đặc biệtNhư trên, có thể thấy, bốn kiểu đầu dựa vào chức năng, ý nghĩa, mụcđích biểu hiện của ngôn ngữ để phân chia kiểu so sánh tu từ; bốn kiểu sau dựavào cấu trúc hay biểu thức ngôn ngữ so sánh để phân như Searle, các hành động ngôn ngữ đều nhằm tới các mục đíchnhư tái hiện, kể, thông tin, điều khiển, biểu cảm và tuyên bố. Biểu thức ngôn22
nghệ thuật so sánh