738. Review sách: Văn minh Đông Phương và Tây Phương - một cái nhìn sâu sắc về văn hóa Đông Tây. Thời kỳ hội nhập mang đến đất nước chúng ta những cơ hội mới, những luồng văn hóa mới nhưng cũng đi kèm cái giá là sự biến chất, mai một của nhiều giá trị văn hóa Một phép so sánh "tát thẳng vào mặt" giới con nhà giàu TQ. Sự khác biệt "chuẩn không cần chỉnh" giữa đàn ông và phụ nữ. 1. Phương thức sống. Ngay từ khi bắt đầu, người phương Tây đã dạy học sinh lối sống tự lập nhưng người phương Đông hoàn toàn ngược lại, không [justify]Hình minh họa cụ thể hóa được phương thức làm việc của 2 nền văn hóa: Trong khi người phương tây làm việc với sự liên kết một cách mạch lạc và có hệ thống, người phương Đông lại có cách tổ chức khá rối rắm và nhằng nhịt.[/justify] [justify]5. 1) Phương Tây: Hở hang thân thể, vẽ tranh, phơi bày, tạc tương đàn ông đàn bà khỏa là đưa ra cái đẹp để mọi người chiêm ngưỡng. Phương Đông: Thân thể đàn ông, đàn bà là kín đáo. Phô bày thân hình đàn bà, đàn ông lõa thể là xúc phạm đến thuần phong mỹ tục và NỘI DUNG. 1.Văn minh phương Đông được hình thành gắn liền với các dòng sông lớn: Một đặc điểm mà chúng ta dễ dàng nhận thấy đối với nền văn minh phương Đông. thời cổ đại, như văn minh Ai Cập, văn minh Ấn Độ, văn minh Trung Quốc, văn minh. Lưỡng Hà… tất cả đều Nếu chỉ nhìn văn minh Phương Đông với riêng nó sẽ thiếu tính khách quan, cần đặt Phương Đông trong sự liên hệ với Phương Tây. Giữa 2 nền văn minh này có nhiều điểm giống và khác nhau, tìm ra những điểm ấy của văn minh đông - tây cũng là tìm ra mấu chốt, là chìa 4.27 · Rating details · 59 ratings · 15 reviews. Văn Minh Đông Phương Và Tây Phương của học giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần là tập sách nghiên cứu về những đặc tính của hai nền văn minh của nhân loại là Đông phương và Tây phương. Tác giả đề xuất một sự dung hòa cần thiết ffrFd. Kiến thức lịch sử về các quốc gia cổ đại phương Đông và các nước phương Tây là phần kiến thức quan trọng của lịch sử 10. Trong bài viết này chúng tôi sẽ so sánh quốc gia cô đại phương đông và phương tây để các bạn có thể nắm rõ phần kiến thức này. So sánh điều kiện tự nhiên phương Đông và phương Tây So sánh các quốc gia cổ đại phương Đông và Phương Tây về điều kiện tự nhiên Bảng so sánh điều kiện tự nhiên phương Đông và phương Tây Điều kiện tự nhiên của phương Đông cổ đại Điều kiện tự nhiên của phương Tây cổ đại – Có điều kiện tự nhiên vô cùng thuận lợi cho cuộc sống nông nghiệp của con người. Có nhiều đồng bằng ven sông rộng lớn, đất đai phì nhiêu, mềm xốp rất phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp. – Lượng mưa được phân bổ đều theo mùa nhờ đó mà con người luôn có nguồn nước dồi dào cho trồng trọt, chăn nuôi và sinh hoạt. – Hàng năm các vùng đồng bằng ven sống đều được bồi đắp thêm phù sa màu mỡ tạo điều kiện thuận lợi cho việc gieo trồng các loại cây lương thực – Có điều kiện tự nhiên phù hợp cho nền kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển. Nơi đây có bờ biển dài và nhiều vũng vịnh sâu, kín gió rất thuận tiện cho giao thông đường biển . – Đất đai không màu mỡ. Thổ nhưỡng nơi đây phù hợp cho việc trồng nho và oliu. – Điều kiện nhiên không thuận lợi để phát triển nông nghiệp, phần lớn lãnh thổ nơi đây là núi và cao nguyên. Nhưng vậy chúng ta có thể thấy điều kiện tự nhiên của phương Đông và phương tây cổ đại có sự khác biệt rõ nét. Điều kiện tự nhiên của phương Đông thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp với những đồng bằng phù sa rộng lớn. Còn điều kiện tự nhiên của phương Tây cổ đại thì phù hợp với công thương nghiệp. Dưới đây là bảng so sánh văn hóa cổ đại phương Đông và phương Tây để giúp các bạn hiểu rõ hơn về nền văn hóa của các nước phương Đông cũng như phương tây thời cổ đại. So sánh các quốc gia cổ đại phương Đông và Phương Tây về văn hóa Tiêu chí Văn hóa cổ đại phương Đông Văn hóa cổ đại phương tây Lịch và thiên văn học – Do nhu cầu nông nghiệp của con người mà lịch pháp và thiên văn học ở nơi đây được ra đời từ rất sớm. – Họ đã biết đến sự chuyển động của mặt trời, mặt trăng. – Lịch do người phương Đông tạo ra còn có tên gọi là nông lịch. Có 365 ngày trong một năm và được phân chia làm 12 tháng. – Biết được chu kỳ thời gian và mùa. Đơn vị thời gian của họ là ngày, tuần, tháng, năm. Đồng thời họ cũng chia năm thành các mùa là mùa mưa hay mùa nước lên, mùa khô hay mùa nước xuống và mùa gieo trồng đất bãi. – Họ đo được thời gian bằng ánh sáng của mặt trời và từ đó họ tính được 1 ngày có 24h. – Cư dân cổ đại phương Tây đã tính được ra một năm có 365 ngày và ¼ ngày. Họ đã định ra 1 tháng lần lượt có 30 và 31 ngày và riêng tháng 2 của năm có 28 ngày. – Người Hy lạp đã hiểu chính xác hơn về trái đất và hệ mặt trời. Chữ viết – Do nhu cầu ghi chép và lưu trữ thông tin nên chữ viết đã được ra đời. Sự ra đời của chữ viết chính là phát minh lớn nhất của loài người. – Chữ viết đã xuất hiện ở Lưỡng Hà và Ai Cập vào khoảng thiên niên kỉ IV TCN. – Khi mới bắt đầu là chữ tượng hình chính là việc vẽ ra những điều mà họ muốn truyền đạt. Về sau con người sáng tạo thêm chữ ký hiệu biểu thị khái niệm trừu tượng. – Thời gian trôi qua con người bắt đầu cách điện hóa chữ viết tượng hình thành các nét và thực hiện ghép các nét theo quy ước để có thể phản ánh ý nghĩ của con người một cách phong phú hơn gọi được gọi là chữ tượng ý. – Người Rôma, Hy Lạp đã sáng tạo ra chữ viết cổ từ rất sớm. Tuy nhiên chữ của họ lúc đó có quá nhiều hình, nét và kí hiệu nên khả năng trở nên phổ biến bị hạn chế. – Họ đã sáng tạo ra hệ thống chữ cái A, B, C… Khi mới được tạo ra bảng chữ cái của họ chỉ có 20 chữ cái, về sau có thêm 6 chữ cái nữa và trở thành hệ thống chữ cái hoàn chỉnh như ngày nay. – Hệ chữ số La Mã ngày nay chúng ta thường sử dụng để đánh số các đề mục lớn cũng được ra đời trong thời kỳ này. Khoa học – Toán học được ra đời rất sớm ở phương Đông do nhu cầu cần tính toán lại diện tích ruộng đất sau khi bị ngập nước và tính toán trong xây dựng – Khi mới bắt đầu người phương Đông viết các chữ số từ 1 đến 10 bằng những ký hiệu đơn giản. – Người Ai Cập cổ đại đã tính ra số pi-3,16; biết được cách tính diện tích của hình tam giác, hình tròn; thể tích của hình cầu… – Người Lưỡng Hà đã biết làm các phép toán cộng, trừ, nhân, chia… phát minh ra chữ số 0 Thời cổ đại của Hy Lạp – Rô ma những hiểu biết khoa học của con người mới thực sự trở thành học. Những định lý toán học, vật lý được ra đời. Những nhà khoa học nổi tiếng của các nước cổ đại phương Tây có thể kể đến trong các lĩnh vực khác nhau có thể kể đến như – Toán học có Ta-lét, Ơ-clít, Pi-ta-go… – Vật lý có Ác-si-mét – Sử học có Hê-rô-đốt, Tu-xi-đít, Ta-xít… họ đã đưa lịch sử vượt qua thời kỳ ghi chép tản mạn, họ đã tập hợp, phân tích và trình bày các dữ kiện lịch sử theo hệ thống. Nghệ thuật Nghệ thuật kiến trúc của phương Đông thời kỳ cổ đại phát triển rất phong phú. Tiêu biểu là thành Babylon của Lưỡng Hà, Kim tự tháp của Ai cập…Những công trình kiến trúc cách đây nghìn năm còn lưu lại đến ngày nay đã chứng minh sự tài năng và sự sáng tạo của con người cổ đại phương Đông. *Về kiến trúc – Người Hy Lạp cổ đại đã để lại cho nhân loại rất nhiều tượng và đền đài tuyệt mỹ như Người lực sĩ ném đĩa, thần vệ nữ Mi-lô, nữ thần Athena đội mũ chiến binh… – Người Rô-ma cũng có nhiều công trình kiến trúc đáng chú ý như đền đài, đấu trường, máng dẫn nước… Những công trình kiến trúc của Roma đồ sộ và thiết thực nhưng lại kém phần tinh tế, tươi tắn và gần gũi như những công trình của Hy Lạp. *Về văn học – Hy Lạp nổi bật với những bản hùng ca nổi tiếng của Hô me là Iliad, Ôđixê. Bên cạnh đó thời kỳ này cũng xuất hiện 1 số nhà văn có tên tuổi như Etxi, Sô phốc, Bripít. – Nhà văn thời kỳ này chủ yếu những biên kịch, các tác phẩm văn học đa số là kịch bản. Có thể nói kịch bản chính là hình thức nghệ thuật phổ biến nhất. – Người Rô-ma đã tự nhận kế thừa văn học – nghệ thuật của người Hy Lạp. Qua bảng so sánh chúng ta có thể thấy các nước cổ đại phương Đông và phương Tây có sự khác biệt nhất định. Song nhìn chung nền văn hóa của cả hai đều phát triển cả về thiên văn học, toán học và nghệ thuật kiến trúc đặc biệt là họ đều sáng tạo ra chữ viết của riêng mình. Tham khảo thêm Nguyên Nhân Thắng Lợi Của Cuộc Khởi Nghĩa Lam Sơn Lập bảng so sánh các quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây Bảng so sánh các quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây Nội dung so sánh Các quốc gia cổ đại phương Đông Các quốc gia cổ đại phương Tây Điều kiện tự nhiên – Có nhiều sông ngòi và đồng bằng phù sa màu mỡ ven sông nên rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. – Lượng mưa phân bổ đều trong năm nên có lượng nước dồi dào phục vụ cho sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất của con người. – Nơi đây có đường bờ biển dài, nhiều vũng vịnh sâu, kín gió nên thuận tiện cho giao thông đường biển – Đất đai không màu mỡ. Thổ nhưỡng phù hợp để trồng ôliu và nho. – Phần lớn lãnh thổ ở đây là núi và cao nguyên nên không thuận lợi để phát triển nông nghiệp Kinh tế – Nền kinh tế nông nghiệp – Công tác thủy lợi phát triển – Nền kinh tế công thương, mậu dịch hàng hải cực kỳ phát triển, đóng vai trò chủ đạo. – Ngành nông nghiệp tại đây chỉ là phụ Thể chế chính trị Nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền hay còn được gọi là chế độ chuyên chế cổ đại Bộ máy nhà nước là bộ máy của quý tộc, công hòa quý tộc hay chủ nô mang tính dân chủ chủ nô Xã hội Có 2 cấp – Giai cấp thống trị Đứng đầu là vua sau đó là quý tộc và quan lại – Giai cấp bị trị Nông dân, thợ thủ công, nô lệ => Mối quan hệ của 2 giai cấp này là đối kháng nhau Có 2 giai cấp cơ bản – Giai cấp thống trị Chủ nô – Giai cấp bị trị Nô lệ => Mối quan hệ của 2 giai cấp này là đối kháng nhau Thành tựu văn hóa nổi bật – Sáng tạo ra nông lịch Một năm có 365 ngày và được chia thành 12 tháng. – Sáng tạo ra chữ viết Chữ tượng hình, chữ tượng ý – Toán học Đã tính được số pi = 3,16; phát minh ra số 0; Nghiên cứu ra công thức tính diện tích của hình tam giác, hình tròn… Kiến trúc Để lại nhiều công trình kiến trúc vĩ đại như thành Babilon tại Lưỡng Hà, Kim Tự tháp ở Ai Cập… – Sáng tạo ra lịch Một năm có 365 ngày và ¼ ngày. Họ đã định ra rằng 1 tháng lần lượt có 30 và 31 ngày. Riêng tháng 2 của năm có 28 ngày – Sáng tạo ra chữ viết Hệ chữ cái Latinh. – Sáng tạo ra số La MÃ – Toán học Các định nổi tiếng như Pitago, Ta lét,… – Văn học Có các tác phẩm nổi tiếng như Ôđixê, Iliad… – Nghệ thuật Có các tác phẩm nổi bật như tượng nữ thần Athena, tượng thần vệ nữ Milo, đấu trường Roma,… Nhận xét Điểm tiến bộ của thời kì này so với thời kỳ trước là có sự tiến bộ vượt bậc về đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa. Những hiểu biết về khoa học của con người của ở phương Đông và Phương Tây thời kỳ này đã trở thành khoa học, các định lý toán học, vật lý được rút ra ở thời kì này đến ngày nay vẫn có giá trị. Những thành tựu về nghệ thuật, kiến trúc của người cổ đại Phương Đông và Phương Tây vẫn còn đến ngày nay. Xem thêm Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 đến 1933 Nguyên nhân hậu quả Trên đây chúng tôi đã chia sẻ bảng so sánh quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây về thiên nhiên và văn hóa. Hy vọng qua bài viết các bạn đã làm được bài tập so sánh điều kiện tự nhiên cổ đại phương Đông và Phương Tây và so sánh được văn hóa cổ đại phương Đông và Phương tây. Bài viết khác Vì Sao Nói Công Xã Pari Là Nhà Nước Kiểu Mới? So Sánh Cách Mạng Tháng 2 Và Tháng 10 Nga Năm 1917 Hàng Hóa Sức Lao Động Là Gì? Vì Sao là Hàng Hóa Đặc Biệt [Giải Đáp] Xu Thế Toàn Cầu Hóa Là Hệ Quả Của Khoa Học Một số nét tiêu biểu của văn hóa cổ đại phương Đông và phương TâyThứ nhất Văn hóa cổ đại phương Đông– Bao gồm các nền văn minh, các phong tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng của những người chỉ chung châu Á. Chủ yếu các nền văn minh Trung Hoa cổ, Ấn Độ cổ, B Tư cổ, … Đặc trưng về tư tưởng và tập tục, vật chất, hội họa, kiến trúc, tôn giáo. Đã hội tụ được nhiều nguồn tạo thành một Thế giới của người Phương Đông. Chủ yếu những nét cổ xưa truyền lại hay đã mất trong dòng lịch sử dài của Á dung chính Show Một số nét tiêu biểu của văn hóa cổ đại phương Đông và phương TâyThứ nhất Văn hóa cổ đại phương ĐôngThứ hai Văn hóa cổ đại phương TâyTìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương ĐôngSo sánh điều kiện tự nhiên phương Đông và phương gian ra đời2. Quá trình hình thành nhà nước thể chế chính trị3. Về thể chế chính trị4. Cơ cấu xã hội5. Về kinh tếVideo liên quan – Văn hóa huyền bí+ Người phương Đông chú trọng phía trong bản thân, thầm kín chịu dựng những nét này đến mang đậm tính cách của các vùng, địa hình được trải dài phức tạp núi non hiểm trở, khiến những người xưa khó gần nhau về giao tiếp.+ Tôn giáo chủ yếu Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo, … pha trộn lẫn nhau đưa ra những tinh túy nhất cho nhân loại. Người phương Tây vẫn con chưa thể khám phá những bí ẩn trên như các nhà sư ngồi thiền để lại nhục thân, hay xá-lị, khi viên tịch hàng trăm năm mà vẫn chưa có thay đổi về thân thể; các bậc chân nhân sống hàng trăm năm trong các hang núi vùng Himalaya.– Cái nôi nền văn minh+ Sự xuất hiện Nhà nước với nhiều lo toan quản lý đời sống, các niềm tin. Việc trao đổi hàng hóa xuất hiện ngày càng nhiều, tạo ra các phong tục cần được trao đổi và bổ sung cho mình.+ Con đường tơ lụa trải dọc từ Đông sang Tây, đi bằng ngựa, lạc đà. Mở rộng buôn bán bằng đường thủy qua nước láng giềng. Những cuộc chiến tranh tranh giành lãnh thổ, gây nên sự mất đi và xuất hiện một Nhà nước mới. Các điều kiện đó đã đủ điều kiện chứng minh cho văn hóa của phương Đông là tinh hoa và phong hai Văn hóa cổ đại phương Tây– Văn hóa phương Tây là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi để chỉ di sản của chuẩn mực xã hội, các giá trị đạo đức, truyền thống, phong tục, hệ thống niềm tin, chế độ chính trị và tạo tác dụng cụ thể và công nghệ có nguồn gốc hoặc liên kết với châu Âu.– Khái niệm trên cũng được áp dụng ngoài châu Âu cho các quốc gia và nền văn hóa có lịch sử được kết nối mạnh mẽ với châu Âu bằng cách nhập cư, thuộc địa hoặc ảnh hưởng.– Văn hóa phương Tây được đặc trưng bởi một loạt các chủ đề và truyền thống nghệ thuật, triết học, văn học và pháp lý, di sản của nhiều dân tộc châu thể bạn quan tâmGin Tuấn Kiệt và Puka sinh năm bao nhiêuMàu Pantone cho mùa đông 2023 là gì?Ngày lễ hội hóa trang 2023 FribourgEU có bao nhiêu thành viên 2022Ngày thi của Hội đồng quản trị Tây Bengal năm 2023 Lớp 10 Tìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương ĐôngCác quốc gia cổ đại phương Đông ra đời vào khoảng thế kỉ IV-III TCN, tồn tạ nhiều tàn dư của xã hội nguyên thủy trước đó, với trình độ sản xuất thấp kém, công cụ lao động thô sơ như đá, đồng… Tìm hiểu về các quốc gia cổ đại phương Đông thì đều thấy có chung một điểm đó là các quốc gia này đều hình thành bên các lưu vực sông lớn, ví dụ như– Ai Cập hình thành bên lưu vực sông Nin;– Ấn Độ hình thành bên lưu vực sông Hằng, sông Ấn;– Trung Quốc hình thành bên lưu vực sông Hoàng Hà, sông Trường GiangChính vì sự thuận lợi này mà hầu hết các quốc gia cổ đại phương Đồng đều tập trung phát triển nông nghiệp, chăn quá trình hình thành nhà nước được bắt đầu từ quá trình liên kết thị tộc, liên minh bộ lạc xuất phát từ nhu cầu của việc trị thủy, tuy nhiên vẫn bảo lưu dai dẳng những tàn dư của xã hội nguyên thủy. Do vậy mà các quốc gia cổ đại Phương Đông là quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, mọi quyền lực đều được tập trung vào tay người đứng đầu đất nước là vui, là người sở hữu quyền lực tối cao, quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và chỉ huy quân hội của các quốc gia cổ đại Phương Đông được chia thành 3 tầng lớp chính đó là– Tầng lớp quý tộc, gồm có quý tộc tăng lữ và quý tộc quan lại– Tầng lớp nông dân công xã chiếm trên 90% dân cư trong xã hội, đây được xác định là lực lượng sản xuất chính;– Tầng lớp nô lệ, phục vụ trong các cung điện và quan lại giàu có, là tầng lớp thấp kém nhất trong xã quá trình phát triển kinh tế thì các quốc gia cổ đại phương Đông tập trung phát triển chính là nông nghiệp, như thủ công nghiệp, chăn nuôi theo hình thức tự cung tự cấp. Việc này cũng nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi, mưa thuận gió hòa, lưu vực các dong sông lớn đem lại phù sa màu mỡ. So sánh điều kiện tự nhiên phương Đông và phương Tây So sánh các quốc gia cổ đại phương Đông và Phương Tây về điều kiện tự nhiên Bảng so sánh điều kiện tự nhiên phương Đông và phương Tây Điều kiện tự nhiên của phương Đông cổ đại Điều kiện tự nhiên của phương Tây cổ đại – Có điều kiện tự nhiên vô cùng thuận lợi cho cuộc sống nông nghiệp của con người. Có nhiều đồng bằng ven sông rộng lớn, đất đai phì nhiêu, mềm xốp rất phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp. – Lượng mưa được phân bổ đều theo mùa nhờ đó mà con người luôn có nguồn nước dồi dào cho trồng trọt, chăn nuôi và sinh hoạt. – Hàng năm các vùng đồng bằng ven sống đều được bồi đắp thêm phù sa màu mỡ tạo điều kiện thuận lợi cho việc gieo trồng các loại cây lương thực – Có điều kiện tự nhiên phù hợp cho nền kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển. Nơi đây có bờ biển dài và nhiều vũng vịnh sâu, kín gió rất thuận tiện cho giao thông đường biển . – Đất đai không màu mỡ. Thổ nhưỡng nơi đây phù hợp cho việc trồng nho và oliu. – Điều kiện nhiên không thuận lợi để phát triển nông nghiệp, phần lớn lãnh thổ nơi đây là núi và cao nguyên. Nhưng vậy chúng ta có thể thấy điều kiện tự nhiên của phương Đông và phương tây cổ đại có sự khác biệt rõ nét. Điều kiện tự nhiên của phương Đông thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp với những đồng bằng phù sa rộng lớn. Còn điều kiện tự nhiên của phương Tây cổ đại thì phù hợp với công thương nghiệp. gian ra đời- Các quốc gia cổ đại phương Đông ra đời sớm TNK IV-III TCN , còn nhiều tàn dư của xã hội nguyên độ sản xuất thấp kém công cụ lao động thô sơ đá, đồng.... Địa điểm là bên lưu vực các dòng sông lớn như Hoàng Hà, Trường Giang Trung Quốc, sông Nin Ai Cập... điều kiện tự nhiên thuận lợi đất đai màu mở thuận lợi phát triển nông Các quốc gia cổ đại phương Tây ra đời muộn thế kỉ I TCN, hình thành trên cơ sở trình độ sản xuất cao công cụ bằng Sắt. Địa điểm là vùng ven biển địa Trung Hải, điều kiện đất đai khô cằn và cứng khó canh tác, có nhiều bờ biển khúc khuỷu thuận lợi xây dựng hải càg phát triển thương Quá trình hình thành nhà nước thể chế chính trị- Quá trình hình thành nhà nước là quá trình liên kết thị tộc,liên minh bộ lạc xuất phát từ nhu cầu trị thủy, vẫn bảo lưu dai dẳng những tàn dư của xã hội nguyên Các quốc gia cổ đại phương Tây quá trình hình thành nhà nước là quá trình xóa bỏ hoàn toàn quan hệ thân tộc trông đó quan hệ địa vực và kinh tế được thay Về thể chế chính trị- Các quốc gia cổ đại phương Đông là quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, mọi quyền lực tập trung trong tay người đứng đầu nhà nước là vua ,là người có sở hữu tối cao,có quyền lập pháp ,hành pháp, tư pháp , chỉ huy quân đội tối Các quốc gia cổ đại phương Tây là nền dân chủ chủ nô Aten, Cộng hòa quý tộc Rô ma thời cộng hòa, đế Cơ cấu xã hội- Các quốc gia cổ đại phương Đông gồm+ Quý tộc quý tộc quan lại và quý tộc tăng lữ+ Nông dân công xã chiếm trên 90% là lực lượng sản xuất chính trong xã hội.+ Nô tỳ nô lệ phục vụ trong cung vua và các quan lại giàu có, không có vai trò trong việc thịnh suy của nhà nước.=> quan hệ bóc lột dưới dạng tô thuế cống Các quốc gia cổ đại phương Tây gồm + Chủ nô chủ xưởng, chủ thuyền,thuyền buôn giàu có, quan lại, tăng lữ..+ Nô Lệ chiếm số đông trong xã hội là lực lượng lao động chính của xã hội. quyết định tới sự thịnh suy của nhà nước nhưng thân phận họ lệ thuộc vào chủ nô, tất cả những gì nô lệ làm ra đều của chủ nô, chủ có toàn quyền kể cả giết nô lệ.=> Chế đô chiếm hữu nô lệ thuần phục và điển hình , là quan hệ cưỡng bức siêu kinh tế giữa chủ nô và nô Về kinh tế- Các quốc gia cổ đại phương Đông nền tảng kinh tế chính là nông nghiệp+ thủ công nghiệp+ chăn nuôi, tự nhiên tự cung tự cấp. Điều kiện tự nhiên thuận lợi, mưa thuận gió hòa, lưu vực các dòng sông lớn giàu phù sa, màu mỡ, khí hậu ấm Các quốc gia cổ đại phương Tây thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển là nền tảng của kinh tế + Có Địa Trung Hải là nơi giao thông, giao thương thuận lợi.+ Phần lớn lãnh thổ là núi và cao nguyên.+ Đất canh tác không màu mỡ.+ Kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp phát đạt.=> văn hóa cổ đại phương tây phát triển hơn văn hóa cổ đại phương đôngThời gian hình thành ra đời muộn hơn các quốc gia cổ đại phương Đông, do đó đã tiếp thu, kế thừa nền văn minh của các quốc gia cổ đại phương điều kiện tự nhiên cầu nối giao lưu giữa các vùng, tiếp xúc với biển đã mở ra cho họ một chân trời mới, họ có điều kiện giao lưu tiếp xúc với nhiều nền văn hóa trên thế phát triển cao hơn về mặt kinh tế, chính trị xã hội cơ sở kỹ thuật, đồ sắt, kinh tế công thương nghiệp và hàng hải; vai trò của tầng lớp tri thức trong xã chế dân chủ chủ nô tạo điều kiện cho con người tự do phát huy tài năng sáng tạo của mình. Tâm sự Thứ tư, 20/10/2010, 1934 GMT+7 From hai nguyenSent Tuesday, October 19, 2010 1126 PM Về quan điểm của anh Mark do liên quan đến bình đẳng nam nữ, tôi xin đưa những ý kiến thế này Nếu anh Mark tìm hiểu lịch sử Việt Nam về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, anh Mark sẽ hiểu rằng xã hội Việt Nam trong một thời gian dài là chế độ mẫu hệ, trong đó vai trò của người phụ nữ trong gia đình là rất lớn. Điều đó ít nhiều vẫn được duy trì đến ngay nay, với nhiều người phụ nữ Việt Nam có vị trí lớn trong xã hội. Vì thế, khi nói phụ nữ Việt Nam khổ cực thì xin hãy đưa ra những cơ sở để so sánh. Về việc phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, tôi xin nói rằng phần nhiều vì muốn mưu cầu một cuộc sống vật chất tốt hơn ở Việt Nam. Ngược lại, không ít đàn ông nước ngoài tìm đến phụ nữ Việt Nam là vì họ không có tiền để lấy vợ bản địa và thấy người phụ nữ Việt Nam có rất nhiều nét truyền thống như phục vụ và biết chiều chuộng họ hơn phụ nữ bản địa. Chẳng hạn như đàn ông Đức rất thích lấy vợ Thái Lan cũng một phần bởi lý do này. Nhưng đó chỉ là một vế của vấn đề tổng thể. Người phụ nữ Việt Nam khi lấy chồng ngoại cũng có rất nhiều cái khổ, chứ cũng không trọn vẹn, ví dụ như bất đồng ngôn ngữ văn hóa, lối sống... Về lý do tại sao phụ nữ Việt Nam và châu Á thường theo chồng và nhà chồng, trong cuộc sống phương Tây, tính tự lập của mỗi người là rất lớn, con cái trưởng thành, lập gia đình thường sống riêng và bố mẹ cô quạnh ở trong viện dưỡng lão. Nhưng trong văn hóa phương Đông, chúng tôi sống trong quần thể gia đình lớn và người phụ nữ thường phải theo lề thói chồng và nhà chồng. Đây là điều đương nhiên, không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước Á châu. Điều quan trọng ngược lại bù đắp thiếu sót đó của người phụ nữ nằm ở chỗ mức độ “phải” đến đâu, chồng và nhà chồng đối đãi thuận lợi ngược lại nhằm bù đắp với người vợ thế nào. Vì thế, tôi muốn nói rằng văn minh phương Tây ở điểm này không phải là văn minh phương Đông do yếu tố văn hóa và giá trị tinh thần lâu đời. Vì thế, mối quan hệ trong gia đình và giá trị tinh thần ở các nước phương Đông thường cao hơn các nước phương Tây. Ngoài ra, ví dụ về ngài thủ tướng Anh cho con bú, xin thưa rằng đàn ông Việt Nam và châu Á có cách thể hiện khác với con cái để thấy rằng nghĩa vụ chăm sóc con cái không phải chỉ riêng ở người phụ nữ. Đồng thời, các nước phương Tây có thể cho rằng phụ nữ hay con cái có quyền bình đẳng ngang với đàn ông, bố mẹ, để có thể đảm bảo rằng chỉ một cái bạt tai nhẹ khi nóng giận là có thể gọi đến cảnh sát thì đó là cái nhìn quá trần trụi, phá vỡ quy tắc đạo lý trong gia đình. Tôi đưa ra quan điểm đó để nhấn mạnh rằng đàn ông không phải có quyền muốn làm gì cũng được, nhưng cũng không thể có chuyện con cái, phụ nữ muốn thế nào cũng được theo ý thích của mình. Đó là lý do tại sao trong nhà phải có nóc, trên dưới trật tự. Nếu như vợ anh “ghét” và muốn mọi thứ theo ý thích của mình thì đó không còn là cuộc sống gia đình mà là cuộc sống của những cá nhân tự do với nhau. Trong hầu hết văn hóa phương Tây, người phụ nữ có vị thế rất lớn. Điều đó có được gắn liền với quá trình phát triển nền văn minh và tranh đấu quyền bình đẳng của nữ giới trong lâu dài. Đó là điều chúng tôi cũng muốn nhưng cũng không có thể thực hiện ngay được trong ngắn hạn do còn bị ràng buộc bởi các yếu tố văn hóa, lối sống, suy nghĩ, quan điểm, nhìn nhận và sự phát triển chung của xã hội. Về quan điểm nếu người vợ cũng có con với chồng cũ, tôi không có ý kiến vì điều đó tùy nhìn nhận của mỗi người đàn ông. Đó là bởi vì đàn ông và phụ nữ do yếu tố sinh và tự nhiên cần có những vị trí khác nhau. Điều này lý giải đàn ông thường phải có trách nhiệm nhiều hơn trong việc kiếm tiền cho gia đình, ra chiến trường khi có chiến tranh nên rõ ràng trách nhiệm lớn hơn. Khi người phụ nữ cũng làm được như thế thì sự so sánh sẽ đem lại một câu trả lời giống nhau. Với nhìn nhận như thế, sẽ thật là khiên cưỡng khi so sánh phụ nữ, đàn ông Việt Nam với nước ngoài do tồn tại nhiều sự khác biệt. Review sách Văn minh Đông Phương và Tây Phương - một cái nhìn sâu sắc về văn hóa Đông Tây Thời kỳ hội nhập mang đến đất nước chúng ta những cơ hội mới, những luồng văn hóa mới nhưng cũng đi kèm cái giá là sự biến chất, mai một của nhiều giá trị văn hóa truyền thống quý báu. Thói sính ngoại đã lan đến cả những vùng thôn quê và có những thay đổi đáng kể lên tư duy người Việt, lên cách chúng ta quan sát, cảm nhận và giữ gìn văn hóa phương Đông. Cùng đọc cuốn Văn minh Đông Phương và Tây Phương của tác giả Nguyễn Duy Cần để có cái nhìn sâu sắc, khúc chiết hơn về sự khác biệt giữa hai nền văn hóa này. Tác giả cuốn Văn minh Đông Phương và Tây PhươngNội dung cuốn Văn minh Đông Phương và Tây PhươngNgười phương Đông Người phương TâyTrích dẫn hay từ cuốn Văn minh Đông Phương và Tây PhươngNhận xét về cuốn Văn minh Đông Phương và Tây PhươngLời kếtCảm Nhận Của Độc Giả Văn minh Đông Phương và Tây Phương là một cuốn sách nổi tiếng khác của học giả Nguyễn Duy Cần. Cụ Nguyễn Duy Cần là một nhà giáo, nhà nghiên cứu, nhà văn lỗi lạc của Việt Nam trong thế kỷ 20. Cụ để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ và có giá trị tham khảo vô cùng lớn. Những cuốn sách của Nguyễn Duy Cần đến nay vẫn được người đọc vô cùng trân trọng bởi những giá trị vượt thời gian. Những cái tên nổi bật phải kể đến như Tôi tự học, Óc sáng suốt, Thuật yêu đương, Cái dũng của thánh nhân, Văn minh Đông Phương và Tây Phương,… Review sách Văn minh Đông Phương và Tây Phương – một cái nhìn sâu sắc về văn hóa Đông Tây Sách hay nên đọc Review sách Tôi tự học – Cách học xứng đáng với cái tầm của từng trang sách Công ty phát hành NXB Trẻ Ngày xuất bản 2017-04-11 000000 Kích thước 13 x 19 cm Số trang 168 Nội dung cuốn Văn minh Đông Phương và Tây Phương Trước tình trạng người Việt chuộng Tây hơn Đông, người phương Đông bị Tây hóa quá nhanh, cuốn sách Văn minh Đông Phương và Tây Phương bàn luận về những cái hay, những giá trị vượt bậc của Đông phương và những cái chưa hay trong nền văn hóa Tây phương. Phân tích, so sánh những cái hay dở trong tinh thần, tư tưởng, đạo lý giữa hai nền văn minh, Văn minh Đông Phương và Tây Phương rút ra những cái chung nhất như sau Người phương Đông Dễ thấy, sách vở kinh điển của Đông phương thường dùng lối hành văn rất vắn tắt, ít lý luận và không đi vào mình chứng dài dòng. Mục đích của lối viết ấy là để người đọc phải dụng công suy nghĩ. Việc của họ là gợi lên trong người đọc manh nha những luồng tư tưởng chứ không truyền bá, gượng ép. Hiểu biết là phải tự mình tìm ra, tự mình chiêm nghiệm chứ không phải được nhồi sọ. Học của người khác không phải để chạy theo họ, mà để làm sâu hơn, làm dày hơn vốn hiểu biết của mình. Theo Văn minh Đông Phương và Tây Phương, người phương Đông thiên về phẩm và coi nhẹ lượng. Họ luôn tự đặt những câu hỏi về bản thân với mục đich cuối cùng là tu tập để giải thoát. Đặt mục đích tối cao là hiểu bản thân, vì hiểu bản thân – cái tiểu vũ trụ trong chính mình, thì mới hiểu được vũ trụ cao rộng ngoài kia. Nhiều nước phương Đông bị tụt hậu so với phương Tây vì họ không trọng vật chất. Đa số các nước này đã trở thành thuộc địa của các nước thống trị. Một số nước lại vươn lên thành cường quốc nhưng sau đó lại chà đạp lên các quốc gia khác. Review sách Văn minh Đông Phương và Tây Phương – một cái nhìn sâu sắc về văn hóa Đông Tây Sách hay nên đọc Review sách Óc sáng suốt – Tư duy là một công trình nghệ thuật Người phương Tây Người phương Tây nhận xét rằng sách vở phương Đông viết tối tăm, mơ màng, không được rõ ràng và minh bạch như Tây phương. Trái lại, nhiều học giả phương Đông lại nhận xét lối văn của phương Tây là nông nổi, gượng ép, vì cố nhồi vào tâm trí người đọc những tư tưởng chủ quan của mình mà không cho họ tự khái quát, tự thấm thía, làm mất tinh thần và bản chất vốn có của người đọc. Theo Văn minh Đông Phương và Tây Phương, người phương Tây theo đuổi tự do vật chất. Nhiều người cho rằng tự do vật chất sẽ cho họ tự do tinh thần. Nhưng chính vì khát khao độc lập vật chất này, họ đã dồn loài người tới những cuộc chiến tranh phi nghĩa, cốt để tranh giành của cải và quyền lực. Gần 200 năm nay, loài người chạy theo chủ nghĩa vật chất, mải mê đánh chiếm mà quên mất việc quan trọng là phát triển tâm thức, nhìn sâu vào những nhu cầu bên trong mình. Trích dẫn hay từ cuốn Văn minh Đông Phương và Tây Phương Cái học của người Đông phương là cái học siêu hình về Bản thể, chứ không phải thuộc cái học về sắc tướng, hướng về sự trở nên như của người Tây phương. Người Đông phương suốt đời chỉ tìm mà thực hiện lại cái Duy nhất ấy, trở về cái nguồn gốc ấy bản thể. Bản thể có sẵn nơi mỗi người. Vì thế, người Đông phương không tìm cách trở nên cái toàn thiện của bên ngoài, nghĩa là không tìm mà mô phỏng theo cái toàn thiện của kẻ chung quanh. Trái lại, họ tìm mà thực hiện cái Bản thể nơi bản thân họ, cho nên cái học của họ là cái học từ giác, tu thân, phản tỉnh. Review sách Văn minh Đông Phương và Tây Phương – một cái nhìn sâu sắc về văn hóa Đông Tây Và cũng nhân đó, quan niệm về sức mạnh của họ không phải đem cái vũ lực để chinh phục thế giới bên ngoài như Tây phương mà là cái sức mạnh tinh thần, lo chinh phục, chiến thắng mình trước hết. “Trước làm sáng cho mình, sau làm sáng cho người” “Tu thần, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Trái lại, kẻ người Đông phương đã tự mình nhận chân được cái kho tàng bất tận nơi mình rồi, thì người đó ắt không còn khao khát gì về ngoại vật nữa, và cũng nhờ đó mà lòng họ được bình tĩnh, thản nhiên hơn với những biến cố trong đời. Theo người Tây phương, mỗi một cái gì bên ngoài kích thích ám ảnh mình mà mình mong ước và mình tìm được phương thế để thỏa mãn được, nghĩa là mình chinh phục hay thâu trữ được, đó gọi là một tiến bộ, … cho nên thời gian của họ rất eo hẹp. Họ trở nên bồn chồn, vất vả, lo âu, băn khoăn, náo động đến nỗi không kịp ngày giờ để trầm ngâm suy nghĩ. Bởi vậy, tâm họ thiếu kiên nhẫn, ưa vụt chạc, rất nóng nảy. Còn người Đông phương, trái lại hòa hoãn, ung dung, thản nhiên, bình tĩnh và thích trầm ngâm tư tưởng hơn. … Và vì thế, người Tây phương chê người Đông phương là làm biếng. Người Tây phương là người hành động. Họ đánh giá con người theo cái năng lực sản xuất vật chất của người ấy. Con người đắc lực của họ, tựu trung là người thành công về vấn đề tiền bạc, vì tiền bạc là phương tiện để họ sai sử thế giới chung quanh, để nâng cao giá trị bên ngoài, để bù đắp cái nghèo kém tinh thần của họ. Anh Trung Hoa nói “Hễ được phần này thì mất phần kia. Máy bay giúp cho người ta giao dịch mau lẹ, nhưng nó cũng đã giúp cho chiến tranh tàn phá gớm ghê. Cũng không có một tiến bộ gì mà không có một thối bộ khác bù vào.” Bình đẳng của Đông phương căn cứ trên sự bất bình đẳng tự nhiên, cho rằng con người sanh ra không ai bình đẳng cả về phẩm chất. Tuy nhiên, người Đông phương rất quý trọng cá nhân, mỗi cá nhân đều có giá trị tuyệt đối nếu họ biết thực hiện đến mức cùng cực cái thực thể của bản thân họ. Trong một dàn nhạc, cái tận thiện của một nhạc sĩ đờn vĩ cầm không giống cái tận thiện của một nhạc sĩ đờn dương cầm. Trích ” Văn minh Đông Phương và Tây Phương” Nhận xét về cuốn Văn minh Đông Phương và Tây Phương Sách Văn minh Đông Phương và Tây Phương gợi cho chúng ta nhiều suy ngẫm về văn hóa, khi cái hồn phương Đông đang bị chủ nghĩa thực dụng của phương Tây hút cạn. Đọc sách Văn minh Đông Phương và Tây Phương, ta thấy trân trọng hơn tâm hồn, cốt tủy của một nên văn minh với những giá trị cao đẹp và sâu sắc. Nền văn minh phương Đông hướng nội giúp chúng ta sống bình tĩnh, than thản, chịu khó đi sâu vào bên trong để tìm hiểu chính mình và sống đời thiện lương hơn. Nguyễn Duy Cần đem tư duy của văn minh phương Đông vào những cuốn sách của cụ. Không gò ép ai theo tư tưởng của mình, không vẽ sẵn lối đi mà chỉ gợi mở để người đọc tự nghiên cứu và suy ngẫm. Dẫu rằng mỗi văn hóa đều có cái hay dở, nhưng trước thực trạng văn hóa Đông phương đang bị mai một này, chúng ta cần đọc để hiểu hơn và giữ gìn những gì quý giá nhất của dân tộc ta. Lời kết Cảm tạ cụ Nguyễn Duy Cần bởi những cuốn sách sâu sắc và giàu giá trị như Văn minh Đông Phương và Tây Phương. Vỏn vẹn 168 trang giấy, sách đã cho chúng ta quay ngược thời gian và nhìn sâu hơn vào tâm hồn dân tộc để thêm trân trọng nền văn minh Đông phương này. Sách hay nên đọc Review sách Thuật Yêu Đương – đừng nói ái tình không cần đến lý trí Cảm Nhận Của Độc Giả Văn hóa phương Tây và phương Đông luôn mang những nét đặc trưng rất riêng. Bởi mỗi nền văn hóa đều có thời gian và địa điểm hình thành khác nhau. Đặc biệt các nền văn hóa này rất đa dạng vì mỗi chủng tộc, bộ lạc, dân tộc đều có bản sắc riêng. Mỗi một sắc tộc sẽ tạo ra từng “chất” riêng thế nên sự đa dạng của văn hóa là vô tận. Tuy nhiên, nếu nhận xét chung thì cả 2 nền văn hóa Châu Âu và Châu Á khác nhau rất nhiều. Ví dụ như quần áo, lối sống, ẩm thực,… Nếu bạn đang thích thú về chủ đề này thì hãy cùng nhau khám phá ngay dưới đây. Những nét đặc trưng của văn hóa phương ĐôngNhững nét đặc trưng của văn hóa phương TâyNhững điểm khác biệt giữa văn hóa phương Tây và ĐôngVăn hóa đời sống phương Tây và ĐôngVăn hóa luật pháp ở phương Tây và ĐôngChia sẻ Những nét đặc trưng của văn hóa phương Đông Văn hóa phương Đông được hình thành từ rất sớm. Và có thể coi là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Từ những tộc người sinh sống tại đây, họ di cư đến những nơi khác nhau. Và dần hình thành nên các quốc gia riêng biệt. Trong đó bao gồm các nền văn minh là nền văn minh Trung Hoa, văn minh Ai Cập, văn minh Ấn Độ và văn minh Lưỡng Hà. Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh lâu đời và phức tạp nhất trên thế giới. Đại diện cho văn hóa nước Trung Quốc cho đến ngày nay. Cũng như là có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hóa phương Đông nói chung. Bao gồm cả Việt Nam. Văn minh Lưỡng Hà nằm ở phía Tây châu lục bao gồm các nền văn minh người Sumer và Akkad, văn minh cổ Babylon, văn minh cổ Assyria – Tân Babylon, văn minh Phoenicia – Palestine, văn minh Israel và Judah cổ xưa. Văn minh Ai Cập chính là nền tảng của đất nước Ai Cập ngày nay. Nhưng đã được phân tách thành Châu Phi. Tương tự với văn minh Ấn Độ chính là nền tảng văn hóa của Ấn Độ ngày nay. Nếu văn hóa Trung Hoa hình thành nên những đặc điểm lễ nghi, lối sống, tư tưởng, đạo lý con người riêng biệt. Từ đó trở thành thước đo cho nền văn hóa phương Đông về sau. Thì văn hóa Lưỡng Hà lại bị ảnh hưởng bởi văn minh phương Tây, nền văn hóa Cethic, Anglo Saxon mạnh mẽ. Song họ vẫn học hỏi, tiếp thu những tư tưởng, tín ngưỡng và đạo lý từ phương Đông. Những nét đặc trưng của văn hóa phương Tây Nền văn minh phương Tây hình thành từ đầu thiên niên kỉ I TCN ở các khu vực ven biển Địa Trung Hải. Đất đai khá cằn cỗi nhưng rất đa dạng về khoáng sản. Tộc người Anglo Saxon chính là nhân tố đầu tiên để hình thàn nên người da trắng về sau. Văn hóa phương Tây thay đổi qua nhiều giai đoạn thời gian như là Phục Hưng, Cải cách kháng cách, Thời kỳ khai sáng và được lan rộng vào thời kỳ chủ nghĩa thực dân. Kiến trúc phương tây từ xưa tới nay đã nổi tiếng vì vẻ đẹp vừa mang nét cổ điển vùa có sự hiện đại. Văn hóa kiến trúc độc đáo của phương tây là niềm cảm hứng của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nét kiến trúc độc đáo thể hiện được nết đẹp trong văn hóa đời sống. Chúng khiến bất kì ai cũng phải trầm trồ khen ngợi. Những lối kiến trúc tiêu biểu có thể kể đến như Kiến trúc La Mã cổ đại. Kiến trúc Roma. Kiến trúc Gothic. Kiến trúc thời kỳ phục hưng. … Mỗi quốc gia phương tây có nét riêng biệt và độc đáo trong phong cách kiến trúc. Nhưng tổng thể đều có sự hài hòa, cân đối và đầy tính nghệ thuật. Mỹ thuật phương tây có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời với nhiều giai đoạn khác nhau. Phương tây có nhiều trường phái nghệ thuật khác nhau với nhiều họa sĩ tên tuổi tạo và tác phẩm nổi tiếng thế giới. Có thể nói mỹ thuật phương tây là 1 trong những trường phái ảnh hưởng lớn nhất tới nền mỹ thuật thế giới. Những điểm khác biệt giữa văn hóa phương Tây và Đông Những đặc trưng của 2 nền văn hóa này có thể được khắc họa rõ nét giữa những đặc điểm khác biệt sau đây Văn hóa đời sống phương Tây và Đông – Văn hóa phương Tây dạy người ta các sống tự lập, phân tác. Trong khi đó người phương Đông hướng đến việc dựa vào nhau để tạo nên thể đoàn kết. – Tại phương Tây mọi người đều bình đẳng, không phân biệt địa vị, giai cấp. Trong khi tại phương Đông, tư tưởng có quyền lực, địa vị là ở trên tất cả vẫn tồn tại đến ngày nay. – Trong giao tiếp, người phương Tây thích đi thẳng vào vấn đề, nói đúng trọng tâm và thẳng thắn trong suy nghĩ. Người phương Đông tế nhị, thích nói vòng vo, nói tránh nói giảm để không làm mất lòng người khác. – Cái tôi của người phương Tây rất lớn, văn hóa phương Đông luôn đề cao tính khiêm nhường. Họ thu nhỏ bản thân để thích ứng với xã hội. – Khi thể hiện bản thân, văn hóa phương Tây luôn tự tin, mạnh mẽ. Và đứng lên nói điều mình muốn trong khi người phương Đông thường né tránh. Điều này thể hiện bản thân một cách khiêm nhường. – Mọi thứ tại phương Tây đều được đơn giản hóa, họ ăn uống đơn giản để tiết kiệm thời gian. Các mối quan hệ rành mạch, rõ ràng, thể hiện rõ cảm xúc của bản thân và nói lên điều mình muốn. Người phương Đông thường né tránh bộc lộ cảm xúc. Không thể hiện quá nhiều quan điểm cá nhân, thường có khá nhiều mối quan hệ phức tạp. Văn hóa luật pháp ở phương Tây và Đông – Văn hóa phương Đông đề cao tính tự do, dân chủ, không cần phải quá đặt nặng tiêu chí kính trên nhường dưới, ngôi xưng tương đồng, thái độ lịch sự như nhau đều được. Văn hóa phương Đông đặt nặng tính lễ nghi, tín ngưỡng và đạo lý, phảo biết tôn trọng người lớn tuổi, người có địa vị. – Văn hóa phương Tây tôn trọng luật lệ, biết tuân thủ quy định, xếp hàng khi mua sắm. Văn hóa phương Đông bất quy tắc, không biết xếp hàng, ít khi tuân thủ nội quy. – Văn hóa ẩm thực phương Tây đơn giản, khá nhàm chán và không tốt cho sức khỏe. Văn hóa ẩm thực phương Đông đa dạng, nhiều nguyên liệu, hương vị và cách thức chế biến. – Văn hóa phương Tây đề cao vẻ đẹp khỏe khắn, rám nắng, khiêu gợi, văn hóa phương Đông tôn trọng phụ nữ có nhân phẩm, biết ý tư nơi công cộng, da trắng, môi đỏ, tóc đen, nét đẹp dịu dàng, tinh tế. – Người phương Tây luôn tôn trọng giờ giấc, đả bảo đúng giờ hẹn. Người phương Đông thường trễ giờ. Với những khác biệt trong văn hóa phương Đông và phương Tây đã kể trên, ta đã phần nào khác họa được những đặc điểm của 2 nền văn minh lớn nhất trong nhân loại. Còn rất nhiều điều cho bạn khám phá, cùng tìm hiểu thêm để có được những kiến thức cho bản thân nhé. Nguồn

so sánh nền văn minh phương đông và phương tây