Kết thúc năm học 2021-2022, Quỹ Đào Minh Quang đã kết hợp với các trường như Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Khoa học tự nhiên và các trường thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội; Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam; Trường Trung học cơ sở
Xin hãy làm như vậy, và nếu các vị thực hiện điều đó, hãy chờ xem con mình chinh phục thế giới. Một kỳ thi hay một điểm số kém sẽ không thể gạt bỏ đi những ước mơ và tài năng bên trong của các con. Và cuối cùng, xin đừng nghĩ rằng chỉ có kỹ sư hay bác sĩ mới là những người hạnh phúc duy nhất trên thế giới này. Trân trọng, Hiệu trưởng".
Sáng tác văn học là một trong những cách thức để bày tỏ tư tưởng, tình cảm, quan niệm về nhân sinh, về thế giới và phản ánh cuộc sống phong phú. Cuộc thi sáng tác văn học dành cho đối tượng học sinh, sinh viên sẽ góp phần khơi dậy và phát huy năng lực sáng tạo nghệ thuật ngôn từ của học sinh, sinh viên.
THÔNG BÁO HỆ THỐNG THÔNG TIN HỖ TRỢ CÔNG TÁC THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÀ TUYỂN SINH NĂM 2021 2021-04-29T14:39:21+07:00. Tuyển sinh ngành Tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam năm học 2021 - 2022 (Đợt 1) Phòng Đào tạo 2021-04-26T13:37:28+07:00. Trang thanh toán cá nhân Lịch
đối với tăng ni, cư sĩ phật tử tham gia tuyển sinh thạc sĩ phật học khóa vi năm 2022, phải đủ các điều kiện sau đây: có bằng cử nhân đúng ngành phật học (không phân biệt cơ sở đào tạo, loại hình đào tạo, hạng tốt nghiệp), bằng cử nhân ngành phù hợp với ngành phật học, bằng cử nhân ngành gần với ngành phật học, bằng cử nhân ngành khác và có bằng …
Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn thông báo phương thức tuyển sinh đại học năm 2021 (dự kiến) Năm 2021, Trường Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN xét tuyển 1.650 chỉ tiêu Xem chi tiết ». Xem tất cả.
Điểm thi môn Sinh thái học vi sinh vật - Vi sinh K31. 60 . Đào tạo SĐH. Trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, cung cấp nguồn nhân lực, đội ngũ chuyên gia trình độ cao trong lĩnh vực khoa học cơ bản và khoa học công nghệ mũi nhọn, có năng lực sáng tạo, làm việc trong
OFDS. Cuộc tranh luận từng được mệnh danh là giữa phái “nghệ thuật vị nhân sinh” do Hải Triều làm chủ soái và phái “nghệ thuật thuật vị nghệ thuật” do Hoài Thanh cầm đầu đã diễn ra trong các năm từ 1935 đến 1939. Đang xem Nghệ thuật vị nghệ thuật Bước vào thế kỷ XX, nền văn hóa Việt Nam, trong đó có nền văn học Việt Nam, đã chuyển nhanh từ phạm trù văn hóa phong kiến trung đại mang tính chất khu vực và phát triển chậm chạp, sang phạm trù văn hóa tư sản, rồi thêm nữa là vô sản, mang tính chất thế giới, hiện đại, phát triển mau lẹ, và đặc biệt là có sự nâng cao hơn nhiều so với thời trung đại về tính tự giác trong quan niệm, tinh thần duy lý và các cuộc bút chiến, có mức độ đậm nhạt khác nhau, chung quanh nhiều vấn đề của cuộc sống Việt Nam, văn hóa Việt Nam như Bạo động hay cải lương, duy tân hay thủ cựu, duy tâm hay duy vật, quốc học là gì, chữ Hán nên dùng hay nên bỏ, Nho giáo đáng tôn thờ hay đáng hạ bệ … chính là sự thể hiện đặc trưng văn hóa đó của thời đại. Nói riêng trong lãnh vực văn chương, sự tranh chấp trong quan điểm nghệ thuật, trong cách đánh giá một số tác phẩm cụ thể, khuynh hướng văn học cụ thể ví như với Truyện Kiều nói chung, nhân vật Thúy Kiều nói riêng, với dòng văn học lãng mãn, vấn đề dâm hay không dâm trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng …, hoặc trực diện, hoặc ngấm ngầm, cũng đã diễn ra sôi nổi đáng kể. Trong đó, có thể nói sôi động nhất là cuộc tranh luận chung quanh vấn đề thơ mới và thơ cũ từ 1933 đến 1937 và cuộc tranh luận từng được mệnh danh là giữa phái “nghệ thuật vị nhân sinh” do Hải Triều làm chủ soái và phái “nghệ thuật thuật vị nghệ thuật” do Hoài Thanh cầm đầu trong các năm từ 1935 đến 1939. Với cuộc tranh luận giữa hai phái Hải Triều và Hoài Thanh, đương thời dù có đựơc dư luận chú ý, rút cục cũng chẳng bên nào chịu bên nào. Bởi chuyện phân định thắng thua trong tranh luận văn chương muôn đời vẫn là chuyện không đơn giản. Nhưng từ sau cách mạng tháng Tám 1945, thì các sách báo Mác xít từ Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam Trường Chinh, 1949, đến Giáo trình Văn học Việt Nam 1930 – 1945 tập II. Bạch Năng Thi – Phan Cự Đệ. NXB giáo dục, 1961, Lịch sử văn học Việt Nam tập V, Nguyễn Trác, Hoàng Dung … NXB Giáo dục, 1962 đến sách Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại 1930 – 1945 Vũ Đức Phúc, NXB Khoa học xã hội, 1971, cùng nhiều bài viết khác, hầu như đã thống nhất trong nhận định chung Chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh của phái Hải Triều là đúng đắn, tiến bộ, mở đầu cho sự chiến thắng của quan điểm nghệ thuật Mác – xít về sau. Phái Hoài Thanh chủ trương nghệ thuật vị nghệ thuật là sai lầm, vừa có hại cho sự nghiệp cách mạng, vừa có hại cho sự phát triển văn chương. Chính Hoài Thanh trên Tập san Nghiên cứu văn học số 1 tháng 1-1960 cũng đã đăng bài Nhìn lại cuộc tranh luận về nghệ thuật hồi 1935 – 1936, trong đó tỏ rõ một thái độ tự phê vừa rất chân thành vừa rất gay gắt, với những câu như “Phái vị nghệ thuật trước sau cố từ chối không chịu nhận cái danh hiệu ấy…Nhưng thái độ của họ trên thực chất là một thái độ thoát ly chính trị mà thoát ly chính trị không vị chính trị thì còn vị gì? Cho nên gọi họ là phái nghệ thuật vị nghệ thuật cũng là phải” Hoài Thanh toàn tập – Tập II, trang 532” … phái nghệ thuật chỉ thấy có mình và giai cấp bé nhỏ của mình mà không có ý thức gì về vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp. “Tlđd tr 547. “Cần phải tìm đến nguồn gốc chính trị và tư tưởng ấy mới nhìn rõ được thực chất của cuộc tranh luận này. Trước hết hãy nhìn vào phái nghệ thuật. Cụ thể là nhìn vào Lưu Trọng Lư và tôi hồi bấy giờ. Chúng tôi là những thanh niên ít nhiều có tham gia phong trào yêu nước hồi 1925-1926, nhưng tham gia với môt quan niệm rất mơ hồ và với một tinh thần không lấy gì làm kiên định. Vào khoảng năm 1930, bản thân bị va đầu vào bộ máy đàn áp của giặc, lại chứng kiến sự thất bại liên tiếp của cuộc bạo động Yên Bái và của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, chúng tôi đâm ra hoang mang. Tôi nhớ lại tâm trạng của tôi lúc bấy giờ, cả cái lý tưởng ôm ấp trong mấy năm, thế là tan hết. Tôi có hồi mất hết lẽ sống. “tlt, tr 556. “Tôi tính chuyện làm văn và lấy văn chương làm lẽ sống mới” tlt, tr 552 … Vấn đề tưởng đã rõ ràng như thế. Nhưng thực tế lại có phần khác. Gần đây từ năm 1992 đặc biệt là vừa qua trong dịp hội thảo khoa học kỷ niệm 90 năm năm sinh của nhà văn Hoài Thanh 1999, không ít người, trong đó có Nguyễn Khải,Vũ Quần Phương,Phong Lê,Phạm Xuân Nguyên,Nguyễn Bao … cách nói có khác nhau về mức độ, nhưng đều có nét chung là muốn xem lại vấn đề một cách khách quan hơn về thực chất của cuộc tranh luận nghệ thuật này, về bản chất tư tưởng nghệ thuật của phái Hoài Thanh mà trước hết là Hoài Thanh cũng như phần đựơc và phần chưa được của phái Hải Triều. Có như thế, thiết tưởng cũng là chuyện bình thường một khi mọi người đều đã thừa nhận bản chất công việc nghiên cứu khoa học phải là một quá trình, phải là chuyện tìm đi tìm lại recherche. Theo ý chúng tôi muốn nâng cao trình độ nhận thức vấn đề, người nghiên cứu cần chú ý một số điều quan trọng như sau – Trước hết, phải thấy cho hết độ phức tạp của chuyện văn chương. – Hai là phải đi sâu hơn vào việc tìm hiểu nội hàm khái niệm cơ bản đã được đặt ra trong cuộc tranh luận. – Ba là phải tôn trong đúng mức hiện tượng tâm lý { tức là tâm thế} của những người tranh luận trong khi tìm hiểu nội dung tranh luận. – Bốn là phải coi trọng tính hệ thống trong khi đi tìm bản chất của các quan niệm. – Năm là phải đặt cuộc tranh luận vào bối cảnh chính trị xã hội đã đành mà còn là bối cảnh văn học trong đó có quan niệm văn học của đương thời để có cách phân giải hợp lý. Bài viết này xin cố gắng phấn đấu theo hướng lành mạnh và cần thiết đó. Lan Khai lại có bài đáp lời Bùi Công Trưng mà theo ông thì Bùi Công Trưng đã sai lầm khi đồng nhất tâm tình và trí tuệ, ông viết “Về trí tuệ và tất cả những cái do trí tuệ sinh ra như các học thuyết, các quan niệm, các tư tưởng, các chế độ, các lễ nghi … tôi rất đồng ý với ông Bùi Công Trừng là có thể thay đổi và thay đổi không ngừng. Trái lại về tâm tính con người ta, tôi không đồng ý với ông Bùi khi ông cho rằng lòng người có thay đổi … Tôi tin rằng sự duy nhất của lòng người qua thời gian chính là một chân lý vậy … Thực ra con người ta cho dù là sống dưới chế độ cộng sản nguyên thủy, chế độ nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản, chế độ xã hội chủ nghĩa hay chế độ gì đi nữa cũng chỉ có một con tim nghĩa là sống nhịp theo bất ngoại bảy tình mà tạo hóa đã cho mang trong lòng …”. Sau bài viết của Lan Khai, không thấy bên nào nói gì nữa. Và cuộc tranh luận tuy có phát sinh trở lại nhưng xem ra cũng đã cạn điều tranh luận. Năm năm sau, trong Văn học khái luận 1944, Đặng Thai Mai đã giải thích lý do của sự im ngừng là “Xem chừng trận bút chiến hồi ấy dĩ nhiên kết thúc, là không phải vì thiếu “chiến sĩ” mà chính là đối với một vấn đề như vậy, công chúng ta vẫn rất lạnh lùng nhất là trong thời kỳ mà những trạng thái khủng hoảng về kinh tế và chính trị còn ám ảnh tinh thần người ta như một con ma bệnh” “Đặng Thai Mai toàn tập, tập I, NXB văn học 1997, tr 119 Những gì được tường thuật trên đây về cuộc tranh luận quan điểm nghệ thuật thời kỳ 1935 – 1939, chắc chắn là còn sơ lược, nhưng thiết tưởng trong phạm vi tương đối, đã có thể cho phép chúng ta nêu lên những nhận xét như sau 1. Trước hết, cuộc tranh luận mang tính chất bút chiến này, ít nhiều cũng đã không nằm ngoài đặc trưng thể loại bút chiến nói chung. Như mọi người đã biết, không riêng gì cuộc bút chiến này, mà cuộc bút chiến nào cũng vậy, đều không thoát ly khỏi đặc trưng tâm thế thông lệ là đã bút chiến với nhau, ai cũng muốn dành phần thắng về mình. Nếu không thế thì không còn bút chiến nữa, mặc dù bút chiến là một thể lọai rất cần cho cuộc sống. Điều này cũng ít hay nhiều, nhất định sẽ có liên quan tới thái độ, giọng điệu, cách hiểu ý đối phương, phô bày ý kiến của mình,kể cả việc trích dẫn sách vở. Ở cuộc bút chiến này, sự thật cũng là vậy. Cả hai bên đều chê nhau … không hiểu nghệ thuật và tự nhận chỉ mình hiểu. Cả hai bên ít nhiều đều tỏ ra không chịu lắng nghe nhau, thậm chí chỗ này chỗ khác còn cố tình không hiểu nhau, chưa nói là còn tung ra một số lời quy chụp nhau quá đáng. Mà hôm nay, với người tìm hiểu cuộc bút chiến này, chắc cũng không thể làm ngơ điều đó, khi thực sự muốn giữ cho mình một thái độ khách quan, khoa học. Xem thêm Cùng Chấm Điểm Vai Trò Host Của Chương Trình Là Gì Và Những Điều Cần Biết Cũng cần chú ý thêm đến tư thế, trạng thái của hai bên khi gia nhập cuộc bút chiến này. Phái Hoài Thanh, trứơc hết là Hoài Thanh đã nhận là mình không hề có ý định tranh luận, bút chiến, chỉ thấy Hải Triều phê bình Kép Tư Bền không đúng với tính chất phê bình văn chương thì viết bài nói lại, thế thôi. Mặt khác, ông cũng hơn một lần, tự nhận là mình sợ lý thuyết do đó mà chẳng muốn tranh luận bút chiến với ai. Đặc biệt, cũng hơn một lần, ông thanh minh trứơc dư luận rằng ông không hề chủ trương lý thuyết, quan điểm nghệ thuật gì cả, nhất là quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật lại càng không. Trước sau, ông chỉ muốn một điều là “văn chương phải là văn chương”. Trong khi đó, thì phái Hải Triều, trước hết là Hải Triều rõ ràng là có ý thức và say sưa với lý thuyết, đặc biệt là có ý chí quyết tâm chiến đấu, khẳng định một lý tưởng nghệ thuật văn chương mà ông tin là đúng, là có ích cho nhân dân, cho xã hội, cho cả văn chương. Tình huống tranh luận đã diễn ra như thế. Người nghiên cứu phải biết để có thêm định hướng cho việc phân tích nhận định. Nhưng vấn đề không chỉ là thế. Bởi ở đây, sự thật lại có nhiều điều khác cũng không thể bỏ qua. Ấy là chuyện Hoài Thanh nói là ông không muốn tranh luận, bút chiến, nhưng thực tế, ông đã tranh luận, đã bút chiến khá quyết liệt như ai. Ông nói là ông sợ lý thuyết này, lý thuyết khác. Khách quan mà nhìn thì thấy ông cũng có một thứ lý thuyết không mang phong cách nặng nề về sách vở, mà chủ yếu là dựa trên khả năng tự mình cảm nhận và suy tư về văn chương, nhưng không phải là không dựa trên vốn hiểu biết về văn hóa, trên ý kiến người này người khác, ví như ở đây là ý kiến của André Gide, của Vichtor Huygô. Kiểu tư duy lý thuyết của phái Hoài Thanh có cái thế mạnh là có nhiều chỗ gần với chân lý nghệ thuật do có sự nâng đỡ của khả năng chân cảm, trực giác nghệ thuật, nhưng dễ thường cũng có không ít hạn chế bởi ít nhiều thiếu một trình độ duy lý tối ưu. Quan sát kỹ các bài viết tranh luận của phái Hoài Thanh, chúng ta có thể chứng minh đựơc điều vừa nói đó. Còn về phía Hải Triều, đúng là có cái thế mạnh trong việc quan tâm nhiều đến lý thuyết trong khi nhiệt tình chiến đấu cho một lý tưởng nghệ thuật cao cả, nhưng khách quan, cũng đã để lộ dấu vết hạn chế của một trình độ lý thuyết vừa là thuộc phạm vi cá nhân, vừa là thuộc phạm vi thời đại.. Người nghiên cứu, bình luận hôm nay, một khi đã đựơc thời đại cho phép nâng cao trình độ lý thuyết, không thể không biết đến hạn chế đó. 2. Vậy thì từ trong tâm thế và tư thế học thuật như trên, cuộc tranh luận bút chiến đã đặt ra những vấn đề gì? Trạng thái đúng sai là thế nào? Nội dung tranh luận có bề nổi và bề chìm. Bề nổi chính là chuyện nghệ thuật vị nhân sinh hay nghệ thuật vị nghệ thuật. Nhưng bề chìm mà hai bên đều như không muốn nói ra ngay phái Hải Triều cũng không nói, mặc dù trong thâm tâm là rất muốn nói, bởi hoàn cảnh tranh luận công khai bấy giờ không cho phép, chính là lời đáp trứơc vấn đề có hay không đem văn chương nghệ thuật vào cuộc đấu tranh cách mạng đương thời do đảng Cộng sản Đông Dương phát động và lãnh đạo, điều mà Sóng Hồng đã phát ngôn trong bài thơ Là thi sĩ “dùng cán bút làm đòn xoay chế độ, mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”. Những người Mác xít, đặc biệt là sau cách mạng tháng Tám hoan nghênh phái Hải Triều,coi Hải Triều là nhà lý luận tiên phong cho quan điểm nghệ thuật Mác xít chính là thầy Hải Triều đã hăng hái nhiệt tình tìm lời đáp cần thiết đó cho vấn đề, mặc dù đây là chuyện bề chìm. Còn với phái Hoài Thanh, đặc biệt là Hoài Thanh, dù trong phần bề nổi, cũng không phải là từ bỏ quan điểm nhân sinh, thậm chí là nhiều chỗ hô hào nhân sinh cũng hăng hái không kém đối phương nhưng vẫn bị quy két là vị nghệ thuật, chính là vì đã không có lời đáp cho vấn đề đang cần có lời đáp đó. Tìm hiểu tiểu sử, thái độ chính trị của Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư ở thời kỳ này và đọc lại lời tự bạch của Hoài Thanh trong bài “Nhìn lại cuộc tranh luận …” sau này mà ở trên đã có trích lại, hẳn là thấy rõ điều đó. Như thế là việc Hoài Thanh và chiến hữu của ông bị phê phán, bị quy kết là có lý do. Nhưng đây mới là một căn cứ. Điều đáng nói là có nhiều người trong khi phê phán, quy kết nhóm Hoài Thanh đã tuyết đối hóa cái căn cứ này. Trong khi như chúng ta biết, ở phần bề nổi, chung quanh vấn đế nghệ thuật vị nhân sinh hay vị nghệ thuật, cả trên hai phương diện, lý thuyết và thực tiễn, vốn dĩ không đơn giản chút nào, không dễ gì có tiếng nói cuối cùng. Trên lý thuyết, trước hết có vấn đề xác định nội hàm khái niệm nhân sinh hẹp hay rộng. Hẹp thì giường như chỉ bó khung trong khuôn khổ những gì chỉ liên quan tới đời sống chính trị, đời sống cách mạng. Còn rộng thì liên quan đến, có thể nói là toàn bộ sự sống con người, sự sống nhân dân, đất nước theo hướng có ích, và dĩ nhiên trong đó đã có cả nội dung theo nghĩa hẹp. Nhưng ở đây, có một yêu cầu tối đa là phải tạo ra được sự hài hòa giữa hai nội dung rộng hẹp đó. Nhìn lại nội dung tranh luận giữa hai phái Hải Triền và Hoài Thanh, dễ thấy cả hai ít nhiều đều tỏ ra thiếu sự hài hòa này trong nhận thức. Phái Hoài Thanh, như trên đã nói, rõ ràng là không nghĩ, thậm chí có thề nói là không đủ dũng khí để nghĩ đến chuyện hướng thẳng văn chương nghệ thuật vào cuộc đấu tranh cách mạng đương thời, mà chuyên chú, bàn luận về nội dung nhân sinh theo nghĩa rộng. Ngược lại, phái Hải Triều dù có được điều cơ bản là muốn hướng văn chương vào cuộc đấu tranh cách mạng sôi động, gian khổ bấy giờ, nhưng trên phương diện lý thuyết, đã ít nhiều không tránh khỏi tình trạng đơn giản hóa nội hàm khái niệm nhân sinh. Hải Triều cũng như chiến hữu của ông, hôm nay còn sống, chắc sẽ tự thấy mặt hạn chế của mình để tự điều chỉnh, hoàn thiện. Trên lý thuyết, lại còn vấn đề quan niệm, định nghĩa về nghệ thuật, về văn chương là gì? Trong đó, có không biết bao nhiêu câu hỏi mà nhân loại, đặc biệt là các lý luận gia về nghệ thuật về văn chương đã tìm được và đang phải tìm thêm lời giải đáp nguồn gốc văn chương là gì?. Văn chương nghệ thuật là huyền diệu, nhưng huyền diệu là thế nào? Khác sự thần bí như thế nào? Văn chương nghệ thuật có quan hệ mật thiết tới đạo đức, triết học, chính trị đã đành, nhưng trong thực tiễn của các mối quan hệ đó, cái gì đã được, cái gì chưa được? Cái gì tưởng là đựơc mà hóa ra chưa được? Cái được và cái chưa được theo người này người khác, không phải là một. Vậy chọn ai? Văn chương nghệ thuật có tính giai cấp và tính nhân loại nhưng hiểu thế nào cho đúng về tính giai cấp và tính nhân loại trong văn chương, và quan hệ giữa hai tính đó với nhau? Cũng vậy, văn chương có tính thời đại và tính trường tồn, tính nhất thời và tính bền vững, tính biến động và tính bất biến, có nội dung và hình thức … Nhưng hiểu thế nào cho đúng về mối quan hệ giữa các tính tương khắc cũng là tương hợp đó. Biện chứng pháp Mác xít cho phép nhận thức vấn đề tối ưu. Nhưng đó chỉ mới là khả năng. Kết quả đúng sai, còn là người vận dụng phép biện chứng. Nhìn lại thực trạng tranh luận ở cả hai phái, ít nhiều vẫn thấy chưa đạt tới quan niệm biện chứng cần có. Một ví dụ Khi tranh luận về mối quan hệ giữa văn chương với triết học, đạo đức, tôn giáo, Hoài Thanh đã cho rằng với văn chương, các thứ ấy là phụ và ông đã bị Hải Triều phê phán gay gẵt quan niệm cho là “phụ” này. Nhiều người sau này, trong khi đồng tình với Hải Triều cũng đã phê phán Hoài Thanh về chữ “phụ” đó. Chuyện đúng sai tưởng đã rõ như thế. Nhưng thực ra cách hiểu chính phụ như thế là còn quá đơn giản, trong khi phép biện chứng cho phép chúng ta thấy rằng quan hệ chính phụ cụ thể còn lệ thuộc vào bình diện xem xét vấn đề. Ở bình diện này, cái này là cái chính, cái kia là cái phụ. Ở bình diện kia là ngược lại. Hoài Thanh khi đưa ra quan niệm chính phụ trong mối quan hệ giữa văn chương với triết học, đạo đức, tôn giáo không biết đã tự giác được điều vừa nói đó chưa?. Còn Hải Triều, nếu ý thức được đầy đủ phép biện chứng trong tư duy, hẳn cũng sẽ không cần phải bỏ nhiều công sức cho sự phê phán. 3. Để có một sự nhận xét thỏa đáng thực trạng của cuộc tranh luận, bút chiến về quan điểm nghệ thuật thời kỳ 1935 – 1939, ngoài những điều đã được trình bày trên đây, còn phải đặt cuộc tranh luận, bút chiến này vào tiến trình vận động, phát triển quan điểm nghệ thuật đã từng diễn ra trong lịch sử văn học dân tộc, trong đó có việc xử lý về mối quan hệ giữa văn chương và đạo lý, có tình trạng nhận thức về chức năng của văn chương. Có thể nói gọn như sau Ở thời trung đại, với đặc trưng mang tính chất nguyên hợp, tổng hợp của văn hóa trung đại, quy luật văn sử bất phân, văn triết bất phân đã là một quy luật đặc thù của văn học trung đại. Kèm theo hiện tượng văn sử triết bất phân đó là hiện tượng coi trọng chức năng giáo huấn của văn chương tới mức ít nhiều xem nhẹ chức năng thẩm mỹ của nó. Quan niệm “văn dĩ tải đạo” “thi ngôn chí” đã từng ngự trị trong nền văn chương trung đại. Với những quan niệm văn chương như thế, văn gần như chỉ còn là phương tiện để chở đạo mà thôi. Nhưng rồi trên đà phát triển của văn chương, cùng với quy luật văn sử triết bất phân, cũng đã từng bước xuất hiện sự phân tách văn khỏi sử, khỏi triết. Cũng như trên phương diện quan niệm, bên cạnh khuynh hướng coi văn chương chỉ là phương tiện chở đạo đã từng bước chớm lên ý thức tôn trọng tính độc lập tương đối của văn chương. Nói một cách khác là chức năng thẩm mỹ của văn chương dần dần đựơc nhận thức rõ nét hơn. Ở Trung hoa và ở Việt nam thời trung đại, đều có tình trạng đó. Ở Trung Hoa, cùng với quan niệm “văn dĩ tải đạo”, “văn dĩ quán đạo”, “văn dĩ minh đạo”, dần dần cũng hình thành quan niệm “đạo thị đạo, văn thị văn” đạo là đạo văn là văn. Ở Việt Nam, trong quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu “Văn chương ai chẳng muốn nghe. Phun châu nhả ngọc báu khoe tinh thần” đã được sóng đối với lý tưởng nghệ thuật “chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Nguyễn Đình Chiểu nói “phun châu nhả ngọc” là nói tới vẻ đẹp của văn chương. Nói tới “báu khoe tinh thần” là nói tới giá trị nội dung của nó. Một quan niệm như thế là một bứơc tiến mới trong quan niệm về nghệ thuật, về văn chương. Nhưng không phải ai cũng nhận thức đựơc như Đồ Chiểu. Các nhà văn chí sĩ đầu thế kỷ XX này, đã có được quan niệm về nghệ thuật rất tích cực đối với văn chương một khi họ coi văn chương là một thứ vũ khí đấu tranh cách mạng bên cạnh nhiều thứ vũ khí khác. Bút chiến chiến đấu bằng ngòi bút bên cạnh thiết chiến chiến đấu bằng sắt thép tức vũ khí gươm đao huyết chiến chiến đấu bằng nhiệt huyết, tấm lòng cứu nước, thiệt chiến chiến đấu bằng cái lưỡi tức là diễn thuyết, tuyên truyền cách mạng … Nhưng với các nhà chí sĩ này, trong quan niệm văn chương vẫn chưa thấy có ý thức về tính độc lập tương đối của văn chương, điều mà Đồ Chiểu trước đó đã có được. Có thể cắt nghĩa hiện tượng này bằng cách nghĩ rằng các nhà chí sĩ không chú tâm bàn chuyện văn chương. Họ chỉ chú ý tới một phương diện là sự cần thiết của văn chương đối với cuộc chiến đấu cứu nước mà nói đầu Đường kách mạng của Nguyễn Ái Quốc, bài thơ “Là thi sĩ” của Sóng Hồng về cơ bản cũng là thuộc khuynh hướng này .Riêng với thế hệ nhà văn trực tiếp tham gia vào công cuộc hiện đại hóa văn học trong nửa đầu thế kỷ này, rõ ràng là có khuynh hướng coi trọng chức năng thẩm mỹ hơn, chú trọng đến tính riêng, tính đặc thù của văn chương hơn so với thế hệ nhà văn – nho gia thời trước một khi đã đặt chức năng giáo huấn lên hàng đầu của việc sáng tạo văn chương. Kể cả với các văn sĩ cách mạng đương thời, một khi chưa lấy văn chương làm lẽ sống. Những lời tuyên ngôn nghệ thuật được viết dưới hình thức thơ như Cây đàn muôn điệu của Thế Lữ, Cảm xúc của Xuân Diệu thể hiện sự chuyển biến quan điểm nghệ thuật đáng được coi là một dấu hiệu tiến bộ trong tư duy, nghệ thuật, quan điểm nghệ thuật. mặc dù không tránh khỏi tính phiến tiễn sáng tác của văn học Việt Nam theo hướng hiện đại hóa thuận theo quy luật phát triển văn học hiện đại của thế giới một phần là nhờ có bứơc tiến này trong quan niệm văn chương. Tuy nhiên,ở đây vẫn có vấn đề là làm sao có được sự hài hòa giữa các chức năng giáo huấn, chức năng phản ánh và chức năng thẩm mỹ trong văn chương. Trong thực tiễn đời sống văn học, cả trên hai phương diện lý thuyết và sáng tác, đã không dễ gì có một sự hài lòng lý tưởng. Phái Hoài Thanh cũng như phái Hải Triều, qua tranh luận bút chiến, cũng đã nằm trong tình hình chung đó của thời đại, xét ở phương diện đựơc và chưa được. Ở phái Hải Triều, ưu điểm nổi bật là coi trọng chức năng xã hội của văn chương. Nhưng cũng để lộ tình trạng hiểu văn chương ít nhiều còn đơn giản. Ngựơc lại phái Hoài Thanh, xem ra có sự coi trọng văn chương hơn,nhưng trong chừng mực nào đó, cũng lại chưa nhận thức thực sự hòan chỉnh về mối quan hệ xã hội với văn chương. Mong ước của người quan tâm tới văn chương hôm nay vẫn là một sự hài hòa cao độ trong sáng tác cũng như trong lý thuyết văn chương về mối quan hệ đó. Điều đó quả không dễ. Điều đó cũng chỉ có thể có trên quá trình tiếp cận chân lý ——————————————————– Chú thích Hiện có hai cách tính thời gian 1935-1936, 1935-1939 do quan niệm hẹp rộng qui định. Xem Hoài Thanh sau 1945 vui buồn nghề nghiệp, Tạp chí Văn học số 7-1999. Xem Khát vọng thành thật, Tạp chí Văn học số 7-1999. Xem thêm Bài Sự tiến hoá của văn học và sự tiến hóa của nhân sinh Báo Đông phương, Báo Đời mới Trong văn bản Hải Triều có ghi lời tiếng Pháp Xem Văn chương và hành động cùng nhiều bài viết khác của Hoài Thanh ngay trong thời kỳ đang tranh luận. Post navigation
Nghệ thuật vị nhân sinh tiếng Pháp l’art pour la vie là lý thuyết khẳng định bản chất xã hội của nghệ thuật, chủ trương nghệ thuật gắn với đời sống xã hội và chính trị, chống lại các khuynh hướng nghệ thuật thoát ly cuộc sống, “nghệ thuật thuần tuý” coi hình thức là trên hết. Nghệ thuật vị nhân sinh là một luận điểm cơ bản và rất tổng quát của mỹ học duy vật. Bản thân nó bao gồm một hệ thống nhiều vấn đề rất trọng yếu như nghệ thuật và xã hội, chức năng của nghệ thuật, nghệ thuật và chính trị, tính giai cấp, tính nhân dân của nghệ thuật, sứ mệnh người nghệ sĩ,… mà việc giải quyết những vấn đề này lại gắn liền với những thành tựu của triết học và mỹ học duy vật của các thời đại. Do vậy, các cách lý giải trước khi có Chủ nghĩa Mác, kể cả của các nhà dân chủ cách mạng Nga ở thế kỷ XIX, đều chưa được triệt để và còn có những hạn chế nhất định. Dựa trên cơ sở triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử coi nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc thù, là loại sản xuất tinh thần đặc thù, chịu sự quy định của cơ sở kinh tế – xã hội, của đời sống tinh thần, tâm lý của xã hội, mỹ học ,mác-xít đã và đang giải quyết một cách khoa học, triệt để và toàn diện các vấn đề trên. Nghệ thuật vị nhân sinh là khẩu hiệu đấu tranh của những người theo quan điểm văn nghệ mác-xít ở nước ta chống lại phái “nghệ thuật vị nghệ thuật’’ trong cuộc tranh luận lớn về nghệ thuật thời kỳ Mặt trận Dân chủ 1936 – 1939. Trong cuộc tranh luận này, phái “vị nhân sinh” đã chứng minh rằng không có văn nghệ đứng ngoài đấu tranh giai cấp và không theo khuynh hướng nào. Nếu văn nghệ không làm lợi cho giai cấp này thì sẽ làm lợi cho giai cấp khác. Họ chủ trương, trong xã hội có áp bức bốc lột, nhà văn chân chính phải “đem ngòi bút lột trán cái xã hội hiện tại để cho dân chúng trông rõ nguồn gốc của mọi sự đau thương và để tìm lấy đường sống“. Mặc dù còn có thiếu sót, phái “nghệ thuật vị nhân sinh” đã giành được thắng lợi lớn. Lần đầu tiên ở Việt Nam, quan điểm văn nghệ mác-xít được truyền bá tương đối hệ thống, bước đầu đẩy lùi ảnh hưởng của khuynh hướng văn học thoát ly, cổ vũ các khuynh hướng văn học tiến bộ.
Nghệ thuật không chỉ mang những giá trị về cái đẹp mà còn có nhiều tầng lớp ý nghĩa, nội dung mà người nghệ sĩ muốn truyền tải. Tùy vào mục đích, cách truyền tải thông điệp và giá trị nghệ thuật. Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh sẽ có những khái niệm và góc nhìn khác nhau. 1. Nghệ thuật là gì? Là những hoạt động sáng tạo khác nhau tạo nên những sản phẩm mang nhiều giá trị. Như giá trị văn hóa, thẩm mỹ, tinh thần, tư tưởng. Thông quan hoạt động nghệ thuật, nghệ thuật mang đến cái đẹp cho cuộc sống. Đồng thời người làm nghệ thuật cũng gửi tâm sự, suy nghĩ, ước vọng, cảm xúc của mình đến với người thưởng thức. Nghệ thuật chứa đựng rất nhiều giá trị và phong phú về các lĩnh vực để thể hiện. Do đó, hiện nay nghệ thuật có thể mang nhiều thông điệp về Giáo dục, nhận thức. Truyền thông, giao tiếp. Giải trí. Thẩm mỹ. Có thể bằng cách này hay cách khác, bằng loại hình này hay loại hình khác. Nhưng cái đẹp, tính thẩm mỹ luôn là người bạn song hành cùng nghệ thuật. 2. Các loại hình nghệ thuật. Các loại hình thuộc nghệ thuật thị giác. Là các loại hình nghệ thuật được tiếp cận thông qua kênh thị giác. Những sản phẩm thuộc loại hình nghệ thuật này được sáng tạo, thiết kế dựa trên những nguyên lý thị giác. Nhằm hướng những chuẩn mực giá trị về mặt thẩm mỹ. Bao gồm các loại hình tiêu biểu Kiến trúc Điêu khắc Hội họa Các loại hình nghệ thuật trình diễn. Phương tiện của nghệ thuật thị giác là màu sơn, đất sét, kim loại…Còn đối với nghệ thuật trình diễn thì phương tiện là âm thanh, nhạc cụ, diễn xuất….Người nghệ sĩ sẽ biểu diễn, truyền đạt nội dung, giá trị nghệ thuật trước công chúng. Tiêu biểu Âm nhạc. Sân khấu. Điện ảnh. Múa, nhảy. 3. Nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh. Nghệ thuật vị nghệ thuật. Nghệ thuật vị nghệ thuật hướng đến thuộc tính và giá trị nội tại của nghệ thuật. Giá trị nội tại này là giá trị về một nghệ thuật chân chính, đích thực. Theo định hướng đó, nghệ thuật chỉ nên hướng về chính bản thân nó. Ví dụ như họa sĩ vẽ tranh phong cảnh thì họ chỉ quan tâm đến nét đẹp phong cảnh đó. Và thể hiện nét đẹp đó trong tác phẩm của mình sao cho hoàn hảo nhất đã là đạt yêu cầu. Khi hướng đến giá trị thẩm mĩ của nghệ thuật, có thể nói đó là ý nghĩa của nghệ thuật vị nghệ thuật. Nghệ thuật vị nhân sinh. Nghệ thuật vị nhân sinh thì hướng đến mục đích làm nghệ thuật và chức năng của nghệ thuật. Mà cụ thể là hướng về con người, đời sống, xã hội. Vì vậy nghệ thuật vị nhân sinh sẽ mang nhiều nhiệm vụ hơn, truyền tải nhiều thông điệp hơn. Như trong một số những giai đoạn lịch sử, nghệ thuật như tấm gương phản chiếu đời sống hiện thực của xã hội. Như tác phẩm nổi tiếng “Những người khốn khổ” của Victor Hugo. Người nghệ sĩ đã thông qua hoạt động nghệ thuật để phản ánh nỗi khổ đau của tầng lớp người dân trong bối cảnh thời đó. Nghệ thuật vị nghệ thuật, nghệ thuật vị nhân sinh là góc nhìn của mỗi người. Trong lịch sử từng có nhiều sự tranh luận về nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh. Cái nào sẽ đúng và phù hợp hơn? Cái nào mới là nghệ thuật thật sự? Nghệ thuật thật sự thì nên hướng về bản thân nó hay hướng về con người, xã hội? Có lẽ những câu hỏi này đến nay vẫn sẽ là đề tài tranh luận. Nhưng trong bài viết chia sẻ này, ta không bàn luận về điều này. Vì nghệ thuật có tiếng nói riêng. Một tiếng nói không chỉ nghe bằng tay, hay có thể nói bằng lời. Một ngôn ngữ mà người học lưu loát chưa chắc đã có thể hiểu. Và người chưa từng học qua chưa chắc đã không biết gì. Chính vì sự vô cùng đặc biệt này mà nghệ thuật vẫn cuốn hút, vẫn say mê. Dù bạn là người hoạt động nghệ thuật hay người cảm hưởng nghệ thuật. Đôi khi một bức tranh đẹp chỉ vì nó đẹp. Hay một bài hát hay vì giai điệu thú vị và ca từ độc đáo. Nếu chỉ vì chúng không chứa một thông điệp truyền tải nào. Mà chúng ta không công nhận là tác phẩm nghệ thuật thì thật sự đáng tiếc, đúng không? Trường hợp khác, với những tác phẩm hội họa mang nội dung phản ánh hiện thực. Chúng ta phân tích về mặt nội dung thôi. Bỏ quên đi những phương thức biểu hiện như đường nét, phối màu, bố cục… Thì phải chăng chúng ta cũng đã bỏ sót giá trị thẩm mỹ hay kiến thức hội họa mà chúng mang lại? Tạm kết Vị nghệ thuật, hay vị nhân sinh là việc lựa chọn góc nhìn. Như trong hội họa, tùy vào phong cách, mục tiêu mà họa sĩ sẽ chọn cho mình kiến thức phù hợp. Các khóa học vẽ cũng từ những nhu cầu, mục đích học mà nội dung ngày càng phong phú, đa dạng. Phục vụ không riêng biệt một đối tượng nào. Với nghệ thuật nên là góc nhìn tổng thể và rộng mở. Digiart Academy - Cảm thụ nghệ thuật thông qua kỹ năng vẽ đồ họa THAM GIA HỌC TẠI ĐÂY!
Xây dựng - Đô thị vị nhân sinh, cuốn sách của tác giả Jan Gehl trong đó giải thích rõ ràng các phương pháp và công cụ mà ông sử dụng để cấu hình lại các cảnh quan thành phố để phát triển thành các đô thị sống động, an toàn, bền vững và lành mạnh, thực sự vì người dân. Một thành phố chỉ tồn tại nếu cư dân của thành phố đó sử dụng các không gian công cộng liên tục và ngược lại những cư dân đó sẽ chỉ làm như vậy nếu họ cảm thấy thành phố sạch sẽ, an toàn và thú vị với họ. Gehl nhấn mạnh vào việc bắt đầu với yếu tố con người thay vì là giao thông khi kiến tạo hoặc tái tạo các khu vực đô thị có ý nghĩa nổi bật. Trong ngôn ngữ cuộc sống đời thường, không mấy khi người ta phân biệt rạch ròi hai từ nhân sinh và dân sinh, chúng thường được dùng tương đương nhau. Tuy nhiên, nếu lật mở từ điển cũng như tham khảo trên các tài liệu, chúng ta sẽ thấy một sự khác biệt nhất định. Nhân sinh là sự sống của con người trong đó nhân là người, sinh là sự sống. Nhân sinh thường được dùng trong cụm từ nhân sinh quan để chỉ quan niệm, cách nhìn nhận thành hệ thống về cuộc đời, cuộc sống con người. Dân sinh thì có nhiều nghĩa hơn Dân sinh có thể là sinh kế, sinh hoạt của nhân dân trong đó dân là nhân dân, sinh là sinh kế, có thể là sự sống của người dân trong đó dân là người dân, sinh là sự sống, và cũng có thể là đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung. Như vậy, vị nhân sinh và vị dân sinh đều có nghĩa chung là vì cuộc sống của con người, lấy cuộc sống con người làm tôn chỉ, làm mục đích để hình thành những ý tưởng và phát triển những hoạt động. Nhưng trong một chừng mực nào đó thì có lẽ vị nhân sinh mang tính khái quát cao hơn khi đề cập đến con người nói chung, thậm chí là nhân loại với những triết lý về cuộc đời, về ý nghĩa, và về mục đích sống. Chẳng hạn như chúng ta thường nhắc đến nghệ thuật vị nhân sinh khẳng định bản chất xã hội của nghệ thuật, chủ trương gắn nghệ thuật với đời sống xã hội, chống lại các khuynh hướng nghệ thuật thoát ly cuộc sống. Còn trong kiến trúc, khái niệm vị nhân sinh thường được dùng một cách lưỡng dụng, nghĩa là vừa có tính hợp lý tiện dụng của công năng khi kiến trúc đặt nhu cầu của người sử dụng lên hàng đầu và thỏa mãn tối đa những nhu cầu đó, vừa thể hiện quan điểm sáng tạo kiến trúc một cách thi vị, tràn đầy cảm xúc thông qua một nhân sinh quan nhất định về môi trường sống của con người. Trong khi đó vị dân sinh lại đề cập đến những khía cạnh đời thường nhất của cuộc sống người dân như sinh kế, hay sinh hoạt của họ. Nói cách khác, dân sinh thể hiện những gì rất thiết thực, không màu mè, liên quan đến những nhu cầu cơ bản nhất, thường là vật chất, của mỗi con người. Nhà cách mạng Phan Châu Trinh đã rất say mê với tư tưởng khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh lấy yếu tố dân làm gốc, trong đó hậu dân sinh nghĩa là làm cho đời sống của dân ngày càng no ấm, nền kinh tế quốc dân phát triển hậu là làm dày ra. Nói cách khác công cuộc khai dân trí và chấn dân khí chỉ có kết quả vững chắc khi biết làm cho đời sống của dân được đầy đủ, hùng hậu. Và kiến trúc vị dân sinh cũng là những gì thực dụng nhất nhằm giúp người dân có thể cải thiện cuộc sống của họ. Nói cách khác kiến trúc vị dân sinh đáp ứng các hoạt động sống thiết thực của người dân mà nhiều khi cũng chính là những nhu cầu sinh tồn thiết yếu nhưng không được quan tâm ghi nhận một cách chính thống hay chính danh. Từ câu chuyện của kiến trúc vị nhân/dân sinh, chúng ta phát triển thành câu chuyện của đô thị, bởi suy cho cùng, đô thị là tổng hòa của những kiến trúc. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, trong một cách tiếp cận từ dưới lên, nghĩa là từ những không gian đời thường nhất, thực tế nhất của các thành phố, chúng ta có thể cảm nhận sự tiến triển tư duy của đời sống xã hội đô thị hình như vẫn chậm hơn một nhịp so với những thành tựu kinh tế. Quan điểm làm đô thị để hỗ trợ sinh kế người dân từ thời đất nước còn khó khăn vẫn tồn tại, mặc dù thu nhập bình quân đầu người dân đô thị giờ đây đã được cải thiện đáng kể. Những không gian công cộng như lề đường, vỉa hè thay vì là nơi để thúc đẩy người đi bộ, đi xe đạp thì lại là nơi buôn bán, trông giữ xe, cơi nới hàng quán... Để rồi mỗi khi có chiến dịch giành lại không gian để đường thông hè thoáng thì chính những người dân lại phản ứng quyết liệt và cho rằng vỉa hè là nơi đem lại nguồn kinh tế chính cho nhiều gia đình, nhiều mảnh đời. Hay một câu chuyện khác, người dân mở các quán cà phê dọc theo đường tàu để rồi trở thành một trào lưu thu hút khách đến chụp ảnh, vui chơi ngay trong giới hạn hành lang an toàn đường sắt, bất chấp an toàn tính mạng của mình. Và đến khi chính quyền có các biện pháp ngăn chặn nhằm tránh những tai nạn có thể xảy ra thì người dân lại có đơn xin được phép tồn tại để đảm bảo nguồn sinh kế. Vậy là khi sinh kế được mang ra và trở thành cái cớ thì những nỗ lực để có thể xây dựng những đô thị văn minh hơn phần nào đã trở nên vô nghĩa. Rõ ràng là trong các ví dụ trên, chúng ta đã có một đô thị vị dân sinh, nhưng chính yếu tố vị dân sinh đó lại làm cho đô thị vẫn nhếch nhác, vẫn mất an toàn, là những điều trái với nguyên tắc vị nhân sinh vì sinh kế của người này lại gây phiền toái, bất an cho những người khác. Trong chiều ngược lại, khi nhìn từ trên xuống, từ những chiến lược, chính sách vĩ mô, có lẽ là hệ thống đô thị Việt Nam vẫn chưa thực sự có những triết lý, những nhân sinh quan về phát triển và tăng trưởng. Hầu hết không gian các đô thị vẫn phát triển một cách tự nhiên, theo bản năng, thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu trước mắt thay vì tính toán cho một tương lai lâu dài. Với đường biên đô thị được mở rộng không ngừng nghỉ, các thành phố béo phì trở thành hình ảnh khuếch trương cho sự phát triển. Sự gia tăng quy mô lẫn sự tích lũy cư dân đôi lúc lại không đi kèm với sự nâng cao các giá trị an sinh xã hội. Tuy nhiên, chúng ta cũng vẫn có một điểm sáng hiếm hoi là Đà Nẵng khi lấy phương châm và quyết tâm trở thành một thành phố đáng sống để làm kim chỉ nam cho các cách thức phát triển không gian và triển khai các hoạt động đô thị. Từ năm 2000, Đà Nẵng đã ban hành chương trình Thành phố 5 không - không có hộ đói, không có người mù chữ, không có người lang thang xin ăn, không có tệ nạn ma tuý, không giết người cướp của. Năm 2005, Đà Nẵng lại tiếp tục với Thành phố 3 có - có nhà ở, có việc làm, có nếp sống văn hoas văn minh đô thị. Và gần đây nhất, đề án thực hiện Chương trình Thành phố 4 an - an ninh trật tự, an toàn giao thông, an toàn thực phẩm, an sinh xã hội - đã được thông qua năm 2016. Rõ ràng là với chuỗi hành động 5 không - 3 có - 4 an, thành phố này ít ra đã cho thấy tính vị nhân sinh khi lấy sự hạnh phúc và an cư của người dân làm trọng tâm với mong muốn mang đến những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống của mỗi người dân bởi thành phố này có khát vọng chứ không phải tham vọng. Như vậy, vị nhân sinh và vị dân sinh là hai yếu tố tồn tại song song và cần phải được đảm bảo đồng thời trong sự phát triển các đô thị. Vị nhân sinh ảnh hưởng đến những định hướng mang tính vĩ mô, dẫn đường cho sự vận động và vận hành tổng thể để hướng đến những giá trị nhân văn đô thị, nền tảng cho những kế hoạch phát triển dài hạn của thành phố. Vị dân sinh lại cho thấy những mối quan tâm vi mô của đô thị đến cuộc sống của mỗi cư dân, mỗi phận đời nhằm giúp họ vượt qua những khó khăn vật chất và mưu sinh cuộc sống trước mắt để vươn lên những thang bậc giá trị cao hơn. Và chúng ta cũng có thể thấy khi đô thị trở nên vị nhân sinh hơn thì các yếu tố dân sinh sẽ được đảm bảo hơn, và ngược lại, khi đô thị trở nên vị dân sinh hơn thì dần dần tính nhân văn đô thị càng rõ nét hơn. TS Trần Minh Tùng Phó Trưởng Bộ môn Kiến trúc dân dụng, Khoa Kiến trúc - Quy hoạch, Trường ĐH Xây dựng
văn học vị nhân sinh