Mô hình PESTE phân tích đánh giá môi trường vĩ mô. 2.1.1. Đánh giá môi trường kinh tế. Các yếu tố của môi trường kinh tế cần xem xét đánh giá bao gồm chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chu kỳ kinh tế, mức độ tăng trưởng, lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái
Vinamilk cũng được bình chọn trong nhóm top 10 hàng Việt Nam chất lượng cao từ năm 1995 đến năm 2007.Phân tích môi trường kinh doanh của công ty Vinamilk Hiện nay, xu hướng tiêu dùng sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa ngày càng tăng lên làm cho ngành công nghiệp chế biến
(3) Nếu nhà quản trị thích một phương pháp lãnh đạo nào đó thì điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự lựa chọn của nhà quản trị. Nếu tình huống thay đổi, hay có những yếu tố đòi
Doanh nghiệp - Người dân; Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; Bảo vệ môi trường. Video bảo vệ môi trường; Album ảnh bảo vệ môi trường; Thông báo; Khoa học và công nghệ; Quản lý thị trường; Tự hào hàng Việt Nam. Tinh hoa hàng Việt Nam; Phát triển bền vững; Lịch
CB500F 2022 tiếp tục được cải tiến trang bị công nghệ và tiện ích cao cấp bao gồm phuộc trước hành trình ngược Showa 4 1mm SFF-BP và hệ thống phanh đĩa đôi phía trước cùng ngàm phanh 4 piston. Bộ vành 17 inch 5 chấu với trọng lượng nhẹ cho khả năng phản hồi lanh lẹ. Hệ thống chống bó cứng phanh (ABS) là trang
2.1.Tác động của môi trường vi mô tới hoạt động Marketing của Unilever Việt Nam .8. 2.1.1.Người cung ứng .8. 2.1.3.Doanh nghiệp 11. 2.1.4.Các trung gian Marketing .14 đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Phân tích môi trường Marketing vi mô và Marketing vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt
Một số nhân tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp 6 2.1. Các điều kiện tự nhiên , kinh tế xã hội , chính trị 6 2.2. Môi trường kinh doanh bên trong của doanh nghiệp 7 Phần II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP BẮC
jDXJg. Việc phân tích nội dung của các công trình nghiên cứu khác nhau giúp làm rõ những khía cạnh về môi trường khởi nghiệp, trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình nghiên cứu đo lường các yếu tố môi trường khởi nghiệp ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. >> Giới trẻ Việt được chủ động khi làm trong môi trường khởi nghiệp Ảnh minh họa. Nguồn internet Giới thiệu Dựa trên dữ liệu điều tra dân số của nghiên cứu Chỉ số Khởi nghiệp Toàn cầu Global Entrepreunership Monitor và số liệu thống kê kinh doanh quốc gia, Việt Nam nổi lên như một nền kinh tế với tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ. Đây là kết quả của sự tăng trưởng nhanh chóng, tạo ra cơ hội kinh doanh cho cả doanh nhân trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam có tỷ lệ khởi nghiệp cao số liệu điều tra dân số, tỷ lệ khuấy động cao churn rate - tổng tỷ lệ các công ty được thành lập và ngừng hoạt động và tỷ lệ cao các doanh nghiệp và công ty tăng trưởng nhanh. Hỗ trợ đổi mới sáng tạo là mục tiêu chung của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của Việt Nam, mặc dù ngân sách hỗ trợ còn nhỏ và không có nhiều doanh nghiệp tham gia do đặt trọng tâm vào Nghiên cứu và phát triển và phát triển quyền sở hữu trí tuệ. Các chính sách khuyến khích phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đang được thực hiện, điển hình là “Đề án 844”- hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia” của Bộ Khoa học và Công nghệ, ưu tiên các hoạt động liên kết, đào tạo và ưu tiên hỗ trợ các vườn ươm doanh nghiệp thông qua các hoạt động nâng cao năng lực. Kaplan và Norton 1993 cho rằng, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được xác định từ 04 nhóm thành phần cơ bản, bao gồm Tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ và học tập phát triển. Trang nghiên cứu của Waal và Coevert 2007 đã đề cập đến yếu tố về tài chính, quá trình đáp ứng nhu cầu khách hàng, phát triển sản phẩm và tạo ra năng lực của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu phản ánh tính hệ thống trong các tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh và thích ứng với môi trường năng động của doanh nghiệp. Dựa trên cơ sở các công trình nghiên cứu trước đây tác giả xây dựng khung nghiên cứu các yếu tố môi trường khởi nghiệp ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, từ đó gợi ý các nghiên cứu sâu hơn về môi trường khởi nghiệp. Tổng quan nghiên cứu Antoncic và cộng sự 2002 đã chỉ ra chuẩn mực văn hóa và xã hội, sự ủng hộ hoặc chống đối hoạt động kinh doanh cũng có tác động đến hoạt động của doanh nghiệp và nhà khởi nghiệp. Nền văn hóa tôn trọng những người khởi nghiệp thành công thì nhiều doanh nghiệp sẽ hình thành. Hay những vùng có tổ chức các cuộc gặp gỡ cho các doanh nhân và các doanh nhân tiềm năng, nơi họ có thể thảo luận ý tưởng, vấn đề và các giải pháp thường có nhiều doanh nghiệp hơn các vùng khác. Zain và Kassim 2012 nghiên cứu môi trường nội bộ của tổ chức môi trường và việc thực hiện cải tiến liên tục về khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong môi trường nước đang phát triển. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có 4 yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc tiếp cận các dịch vụ hạ tầng như truyền thông, năng lượng và các hoạt động thiết yếu khác cho hoạt động sản xuất kinh doanh có tác động mạnh mẽ đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Các cải tiến liên tục do các công ty thực hiện cũng được cho là có ảnh hưởng tích cực đến khả năng cạnh tranh của các công ty. Hơn nữa, môi trường nội bộ của các công ty được cho là có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng cạnh tranh của các công ty. Cuối cùng, khả năng cạnh tranh của các công ty được phát hiện có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả hoạt động của các công ty. Một số hàm ý quản lý của các phát hiện cũng được cung cấp. Kaplan và Norton 1993 đo lường kết quả hoạt động của doanh nghiệp, thông qua 4 nhóm yếu tố sau Tài chính, khách hàng, tiêu chí về quy trình, tiêu chí về học tập và phát triển Marr và Schiuma 2003 nghiên cứu về kết quả hoạt động kinh doanh trong quá khứ, hiện tại và tương lai cho rằng, khái niệm đo lường kết quả doanh nghiệp tùy thuộc vào ý tưởng chủ quan của các nhà nghiên cứu khi muốn đánh giá các tiêu chí kết quả hoạt động tài sản khi đưa vào sản xuất, nguồn vốn bằng tiền, quản trị, nguồn nhân lực và lợi nhuận tạo ra cho cổ đông.... Các yếu tố thuộc về môi trường khởi nghiệp có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp vừa khởi sự kinh doanh bao gồm Tiếp cận các nguồn lực tài chính; các chính sách hỗ trợ của chính phủ; tiếp cận các tổ chức hỗ trợ và đào tạo về khởi nghiệp, tiếp cận thị trường và các chuẩn mực về văn hóa thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp. Như vậy, những yếu tố trên sẽ giúp cho những doanh nghiệp vừa được thành lập tồn tại và tăng trưởng thông qua hình thành lợi thế cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh này sẽ tác động tích cực đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Mô hình nghiên cứu Trên cơ sở đánh giá các công trình nghiên cứu trên, tác giả đề xuất các yếu tố môi trường khởi nghiệp tác động đến kết quả kinh doanh gồm Sự tiếp cận các nguồn lực tài chính; Các chính sách hỗ trợ của Chính phủ; Tiếp cận các tổ chức đào tạo và hỗ trợ về khởi nghiệp; Việc tiếp cận thị trường; Văn hóa thúc đẩy khởi nghiệp. Mô hình nghiên cứu được để xuất tại Hình 1 Thông qua khảo cứu các lý thuyết, nghiên cứu trước đó và trên cơ sở mô hình nghiên cứu đề xuất phù hợp với điều kiện của Việt Nam, có thể thấy các yếu tố môi trường khởi nghiệp tác động nhất định đến kết quả kinh doanh, cụ thể như - Khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính Vesper 1990 cho rằng, các điều kiện chung của vốn khan hiếm có thể tác động đến nhận thức của các doanh nhân. Gartner 1985 cho rằng, doanh nghiệp thành công hay không chính thức bắt đầu thiết lập nguồn quỹ là rất quan trọng trong giai đoạn đầu của việc phát triển thương mại sản phẩm thành công từ các kết quả của nghiên cứu học tập. Tương tự, Vesper 1990 cho rằng, tài chính sẵn có của tài chính gia đình có thể đóng vai trò trực tiếp trong cung cấp chính thức, ươm mầm và tài trợ khởi nghiệp. Vì vậy, sự tiếp cận các nguồn lực tài chính kỳ vọng có tác động tích cực đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. - Các chính sách hỗ trợ của Chính phủ Các chính sách của Chính phủ cung hỗ trợ việc hình thành các nhà khởi nghiệp kinh doanh năng động, cũng như khuyến khích các doanh nghiệp này trong giai đoạn ban đầu của quá trình tăng trưởng Radas và Bozic, 2009. Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đã nhấn mạnh vào yếu tố quyết định chính như đào tạo nguồn nhân lực. Tuy nhiên, một tầm nhìn dài hạn rõ ràng và tiến bộ về vai trò phát triển doanh nghiệp chưa được phản ánh trong các cơ chế, chính sách nhà nước ban hành. Saghir và Khan 2012 nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư khu vực tư nhân. Kết quả thực nghiệm cho thấy, mối quan hệ lâu dài giữa đầu tư công và tư nhân, chi đầu tư phát triển của Chính phủ cần được cải thiện để giảm thiểu các chi phí sản xuất cho khu vực tư nhân, từ đó làm gia tăng lợi nhuận của các nhà đầu tư tư nhân. Vì vậy, các chính sách hỗ trợ của Chính phủ được kỳ vọng có tác động tích cực đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. - Tiếp cận các tổ chức đào tạo và hỗ trợ về khởi nghiệp Autio và Keeley 1997 đồng quan điểm giáo dục và đào tạo là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong phát triển con người và nguồn lực con người. Các tổ chức đào tạo và hỗ trợ về khởi nghiệp đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp. Trên quan điểm đó, sau này với sự nổi lên của các nghiên cứu dựa trên tâm lý học xã hội về hành vi dự định thì nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra chương trình đào tạo nói chung và đào tạo khởi nghiệp nói riêng, môi trường học đại học, các hỗ trợ của trường, có tác động rất tích cực tới mong muốn, sự quan tâm và định hướng khởi nghiệp. Nghiên cứu trên quy mô lớn của Kim và Hunter 1993 khẳng định, đào tạo và hỗ trợ khởi nghiệp có tác động tới thái độ của các cá nhân về khởi nghiệp kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. - Việc tiếp cận thị trường Việc tiếp cận các dịch vụ hạ tầng như truyền thông, năng lượng và các hoạt động thiết yếu khác cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng có tác động nhất định đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cũng là yếu tố gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc gia, mà diễn ra trong phạm vi toàn cầu. Vì vậy, đòi hỏi nhà khởi nghiệp và doanh nghiệp phải có năng lực quản lý cao hơn để có thể quản lý và điều hành doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Do đó, việc tiếp cận thị trường có tác động tích cực đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. - Văn hóa thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp Theo Shapero và Sokol 1982, Krueger 1993, ý kiến những người xung quanh tác động tới niềm tin của các nhà khởi nghiệp. Bên cạnh đó, nhận thức của xã hội và Nhà nước về hoạt động khởi nghiệp và các nhà khởi nghiệp có ảnh hưởng tới năng lực quản lý của nhà khởi nghiệp. Vai trò quan trọng của khu vực doanh nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ là không thể phủ định và nhà khởi nghiệp với vai trò đầu tầu trong việc quản lý điều hành doanh nghiệp giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các quan điểm, chủ trương, chính sách của Nhà nước sẽ được thể chế hóa thành luật pháp và chính sách, tạo hành lang pháp lý, tạo môi trường kinh doanh cho các tổ chức, doanh nghiệp và mọi người trong xã hội trong đó có các nhà khởi nghiệp. Kết luận Nghiên cứu về mối quan hệ giữa môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là yêu cầu bức thiết hiện nay. Mối quan hệ, mức độ ảnh hưởng của các thành phần trong mô hình được nghiên cứu kỹ lưỡng, giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp có thêm tài liệu tham khảo, để nâng cao kỹ năng quản lý và ứng phó với sự thay đổi của môi trường. Thông qua xây dựng mô hình nghiên cứu về các yếu tố môi trường khởi nghiệp tác động đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam, tác giả gợi ý cho những nghiên cứu thực nghiệm trong thời gian tới. Đánh giá của bạn Mời các bạn tham gia vào group Diễn đàn Doanh nghiệp để thảo luận và cập nhật tin tức.
Chào mừng bạn đến với “Sự Thay Đổi Lớn” được đặt tên theo “Báo Cáo Xu Hướng Nguồn Nhân Lực Toàn Cầu của Deloitte năm 2017”. Đó không chỉ là 1 yếu tố trong môi trường làm việc thay đổi; mà thực chất là tất cả mọi thứ đã thay đổi! Công nghệ ảnh hưởng làm thay đổi từ phương thức làm việc đến phong cách sống và làm việc của lực lượng lao động, từ những giờ làm việc cố định tại công sở đến sự tiến bộ của công nghệ cho phép làm việc và kết nối xuyên quốc gia và toàn cầu, MỌI THỨ đã thay đổi! Và chúng ta có thể nói đây là “sự thay đổi tốt đẹp.”Sự thay đổi công nghệ ảnh hưởng đến hoạt động công ty về những cơ hội để cải cách hoạt động kinh doanh, chính sách nhân sự, công cụ và chiến lược tại nơi làm việc, và còn nhiều thứ khác nữa. “Báo Cáo Xu Hướng Nguồn Nhân Lực Toàn Cầu của Deloitte năm 2017” phân tích những thay đổi này đã diễn ra do sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ, chúng ta cần đề ra những chiến lược để sẵn sàng cho sự tiến bộ công ty thất bại; dẫn đến giảm hiệu suất và doanh thu. Với tất cả những điều tốt đẹp đề cập trên; những tiến bộ công nghệ không phản ánh hoàn toàn hoạt động và doanh thu công ty. Điều này được thể hiện trong biểu đồ bên dướiBiểu đồ 1 Điều gì đang diễn raDi động, cảm biến, trí tuệ nhân tạo, công nghệ điện toán nhận thứcKhả năng tiếp cận công nghệ của người tiêu dùng toàn cầuCông nghệ xâm nhập vào chính trị và cuộc sống đời thườngNhững thay đổi đang diễn ra trong lĩnh vực công nghệ và thế giới không thể thích nghi ngay trong một đêm. Cho đến lúc nhân viên, chính sách và công ty bắt kịp với sự phát triển, công nghệ lại càng tiến bộ hơn. Có những yếu tố tiềm ẩn cần được hiểu rõ nhằm đưa mọi người và hoạt động kinh doanh bắt kịp với các tiến bộ khoa đồ 2 Điều gì đang thực sự xảy raCơ hội của ngành nhân sự là giúp thu hẹp khoảng cách giữa công nghệ, cá nhân, công ty, xã hội và chính cáo của Deloitte chỉ ra 4 yếu tố với tiến độ phát triển khác nhau;i Công nghệ’ theo định luật Moore đang tăng gấp đôi về tiến độ phát triển mỗi 18 đến 12 tháng,ii Cá nhân’ đang thay thích nghi và cải thiện bản thân nhanh chóng một người Mỹ xem điện thoại trung bình 8 tỉ lần mỗi ngàyiii Và sau đó doanh nghiệp’ đang bị thụt lùi phía sau, vẫn cố gắng để bắt kịp tiến độiv Và cuối cùng chậm thay đổi nhất là chính sách công’Kế hoạchBáo cáo rõ ràng nhấn mạnh sự tiến bộ không ngừng về công nghệ đang tạo ra một làn sóng năng suất khổng lồ, và điều cần phải tập trung vào thời điểm này là một kết hoạch hành động. Chiến lược nào các công ty và chuyên viên nhân sự cần thích nghi để đẩy lùi khoảng cách tạo ra bởi sự chuyển hướng nền công nghệ hiện tại?Bộ mặt mới của các công tyTrong những thời điểm trước đây, các công ty vẫn tập trung vào việc tăng hiệu quả hoạt động; điều này hầu như đã tăng hiệu suất làm việc và thúc đẩy công ty phát triển lên một tầm cao hơn. Hiện tại đã khác biệt nhiều! Hoàn toàn khác biệt. Các công ty không thể bước vào cuộc đua khi thay đổi một vài chiến lược, họ cần phải thay đổi bộ mặt công ty trước tiên. Công ty sẽ không chỉ cải tiến quy trình mà cần phải tái cấu trúc và tạo ra những chính sách, hệ thống và hệ tư tưởng mới để bắt kịp tiến độ phát triển. Các doanh nghiệp của ngày hôm nay cần phảiThích nghi nhanh Sự thay đổi này diễn ra liên tục và phù hợp với sự phát triển về công nghệ của các công ty, họ sẽ phải tập trung vào việc thích ứng một cách nhanh việc nhóm và thiết lập các mối quan hệ Đã qua rồi hệ thống quản lý phân tầng, nhân viên làm việc độc lập không còn thành công so với những nhóm dự án và sự luân chuyên nhân sự. Thời hiện tại đòi hỏi nhân viên phải làm chung trong một nhóm nhỏ những nhóm được tạo nên dựa trên một dự án và sau đó tách ra khi dự án kết thúc; sau đó lại thành lập một nhóm khác dựa trên dự án mới. Một thực tiễn khác cần được thông qua là sự chuyển giao vai trò. Cách giao 1 nhiệm vụ cốt lõi cho từng nhân viên đã dần trở nên lỗi thời. Nhân sự nên thực hiện việc mở rộng bản mô tả công việc và luân chuyển nhân sự dựa những công việc khác nhau để giúp nhân viên làm giàu hơn kinh nghiệm làm việc của bản thân và xây dựng một ngân hàng nhân tài vững mạnh cho công giá và minh bạch Nhân viên nên được yêu cầu đánh giá những quy trình của công ty bằng những câu hỏi mở. Và điều thứ hai công ty cần làm là tạo nên các chính sách và phương thức truyền thông minh bạch, tăng niềm tin đối với nhân viên trong công giá cần thực hiện theo phương pháp đánh giá chéo, nhân viên cần được đánh giá trong các lĩnh vực như hiệu suất làm việc, thái độ, sự thích nghi, sự linh hoạt, làm việc nhóm, và kết quả cần được công bố minh bạch để tăng sự khích lệ đối với nhân công cụ nhân sự Một nhu cầu rất rất quan trọng hiện tại là thích ứng với những công nghệ và nền tảng kỹ thuật số mới nhất để các công ty có thể tận dụng các ứng dụng tiên tiến nhất và mạng xã hội để vận hành các quy trình trong và ngoài công ty. Hướng tới kỹ thuật số là phương thức duy nhất để tồn tại!Đánh giá cao những điểm mới Nhân viên nên được công nhận và đề bạt dựa vào những điểm như sáng tạo, tinh thần học hỏi, dám chấp nhận thách thức và thử nghiệm điều mới thay vì chỉ dựa vào đánh giá hiệu suất làm cáo của Deloitte đã lập nên biểu đồ như bên dưới về các quy luật cũ và mớiQuy tắc cũQuy tắc mớiĐịnh hướng về năng suất và hiệu quảĐịnh hướng để học hỏi, sáng tạo, và tạo ảnh hưởng đến khách hàngCông ty là một tổ chức phân cấp, với quy trình ra quyết định được phân cấp từ trên xuốngCông ty là mạng lưới linh hoạt, phân quyền xuống cho các trưởng nhóm, và vận hành dựa trên sự hợp tác và chia sẻ kiến thứcCấu trúc doanh nghiệp dựa trên chức năng chuyên với với các trưởng nhóm/ trưởng phòng chức năng và nhóm chức năng toàn cầuCấu trúc doanh nghiệp xây dựng trên các dự án và nhiệm vụ, lập nên các nhóm tập trung vào sản phẩm, khách hàng và dịch vụPhát triển qua sự đề bạt với quy trình thông qua bởi nhiều tầng lớpPhát triển qua các nhiệm vụ, kinh nghiệm đa dạng, và sự lãnh đạo đa chức năng trong từng nhiệm vụNhân viên “trở thành lãnh đạo” qua sự đề bạtNhân viên “tạo ra nhóm ủng hộ” để xây dựng quyền hạn và tầm ảnh hưởngLãnh đạo bằng chỉ thịLãnh đạo bằng sự điều phốiVăn hoá sợ sai phạm và nhận xét về người khácVăn hoá an toàn, phong phú, dám nghĩ dám làm và sáng tạoDựa trên quy tắcDựa trên niềm vui trong công việcVai trò và vị tri công việc được định nghĩa rõ ràngTrách nhiệm của nhóm được định nghĩa rõ ràng, nhưng vai trò của mỗi thành viên sẽ thường xuyên thay đổiVận hành dựa trên quy trìnhVận hành dựa trên dự án2. Ý nghĩa mới của sự nghiệp’ và tính chủ động trong việc học hỏiCác ứng viên chuyên nghiệp ngày nay không còn tìm kiếm những công việc trì trệ, khiến họ phải dành cả đời để làm, họ hỏi một cách chậm chạp và từ từ thăng tiến trên nấc thang nghề nghiệp. Tính năng động của thời buổi hiện tại đã thay đổi mọi thứ hoàn toàn; với hàng loạt các tài liệu giáo dục, các khoá học miễn phí và sự bùng nổ thông tin, nhân sự ngày nay không còn cần phải học tập liên tục, mà họ sẽ tìm kiếm một công việc cho họ cơ hội học hỏi và thăng tiến trong nghề nghiệp – theo chiều hướng 360 độ. Họ thích làm việc với các tổ chức có thể phát triển sự nghiệp của họ và có thể chọn lựa không làm việc cho những công ty không có chính sách học tập và phát triển nhân những người Trưởng bộ phận đào tạo CLOs sẽ phải làm gì trước thực tế như vậy? Các doanh nghiệp ngày nay cần nhanh chóng bắt kịp, mở rộng và tái đầu tư và các Chiến lược Đào tạo và Phát triển trong công tập mỗi ngày Học tập hiện nay không còn bị giới hạn bởi những chương trình chuyên biệt, mà thay vào đó là việc cần thiết phải học tập liên tục; mọi lúc mọi nơi. Với sự ra đời của những phần mềm mới, các công ty cần đảm bảo rằng nhân viên của họ đang học tập và thích ứng. Công ty có thể sử dụng một số ứng dụng và công cụ để giúp việc học trở nên đơn giản hơn trên di động. Hơn thế nữa, các trường đại học ngày nay hầu hết đều có các chương trình học tập trực tuyến dành cho cấp sau đại học và cao hơn. Các công ty cũng cần nên ghi danh cho nhân viên tham gia các khoá học định nghĩa vai trò của nhà quản lý Các công ty bắt buộc phải tận dụng đội ngũ quản lý nhằm đảm bảo công tác học tập & phát triển của đội ngũ nhân viên. Họ cần phải đảm bảo các nhân viên được đào tạo tốt cho các vai trò mới dõi tiến trình học tập Trường bộ phận đào tạo – CLOs có thể sử dụng các ứng dụng theo dõi để đánh giá thời gian một nhân viên dành thời gian trên các nền tảng học tập, số lượng khoá học họ tham gia và tiến trình học tập sau khi ghi danh vào một khoá học trực tổng thể, công tác Đào tạo & Phát triển đã thay đổi hoàn toàn, ứng viên ngày nay đòi hỏi các cơ hội học tập và phát triển. Thực tế, họ coi cơ hội phát triển sự nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu khi chọn lựa làm việc cho công ty nào đó. Cuối cùng, “Xu Hướng Nguồn Nhân Lực Toàn Cầu Của Deloitte” cũng đưa ra cho chúng ta cái nhìn rõ hơn về các quy chuẩn cũ và mới trong thời kỳ hiện tắc cũQuy tắc mớiNhân viên được yêu cầu học hỏi từ người quản lý hoặc một hình mẫu nào đấyNhân viên được quyết định sẽ học hỏi từ ai, hoặc học cái gì dựa trên nhu cầu của nhóm và mục tiêu nghề nghiệp cá nhânSự nghiệp đi “lên hoặc xuống”Sự nghiệp sẽ rẽ sang nhiều hướng khác nhauNgười quản lý sẽ quyết định hướng phát triển sự nghiệp của nhân viênNhân viên được quyền quyết định hướng phát triển sự nghiệm của bản thân với sự giúp đỡ từ lãnh đạo và người khácBộ phận Đào tạo & Phát triển doanh nghiệp chịu trách nhiệm đào tạo & phát triểnBộ phận Đào tạo & Phát triển định hướng phát triển và tạo nên những trải nghiệm học tập hữu íchNhân viên học trong phòng học và thỉnh thoảng học trực tuyếnNhân viên học mọi lúc mọi nơi, từ các khoá học nhỏ, lớp học và từ các nhóm khác học trong doanh nghiệp là các trung tâm đào tạoTrường học trong doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, với việc học từ các lãnh đạo và các nhóm chức năng khác tạo về quy trình, quy định và danh mục các khoá học có sẵnĐào tạo và phát triển tạo ra môi trường hợp tác thường xuyên, khuyến khích trải nghiệm học tậpNội dung đào tạo được soạn thảo bởi các chuyên gia và bộ phận Đào tạo & Phát triểnNội dung đào tạo có thể được tất cả mọi người soạn thảo, được chính các nhân viên hoặc bộ phận Nhân sự đào tạo chỉ được cấp bởi các trường đại học, các học viện đào tạo; kỹ năng chỉ được chứng nhận trên giấyChứng nhận kỹ năng “đa dạng, phong phú” khi nhân viên học được kỹ năng mới bằng nhiều cách khác nhau3. Lựa chọn nhân viên phù hợp Tuyển dụng nhân viên phù hợp cho công ty trở thành viênc quan trọng hơn bao giờ hết. Khi ứng viên yêu cầu càng nhiều thứ từ công ty; thì thị trường nhân tài trở nên càng ngày càng khốc liệt khiến việc tuyển dụng càng trở nên khó khăn. Chuyên gia nhân sự không chỉ cần tập trung vào việc tìm kiếm một ứng viên có khả năng cạnh tranh cao, có khả năng thích ứng với công nghệ và đa kỹ năng, mà còn phải định vị họ như một nhân tài mà công ty mong muốn gia dụng nền tảng kỹ thuật số Tuyển dụng dựa trên nền tảng kỹ thuật số là một trong các làn sóng công nghệ hiện tại, giúp các chuyên viên nhân sự tiết kiệm thời gian mà vẫn mang lại kết quả tốt. Các công ty ngày nay cần chuyển dần sang xu hướng tuyển dụng số hoá để giảm bớt lượng ứng viên lọt vào trong danh sách ưu tiên của công ty cần thiết lập nghĩa các chiến lược số hoá và mạng xã hội. Họ cần sử dụng nhiều hơn nữa các công cụ công nghệ như videos, trò chơi và điện thoại di động để định vị họ như những công ty nhanh nhạy với xu hướng công nghệ và số môi trường làm việc số hoá sẽ thu hút các ứng viên thế hệ gen Y; các công ty do đó cần tập trung vào việc tối ưu hoá quy trình nội bộ và cơ sở vật chất phục vụ cho công vị độc quyền Hãy khiến công ty nổi bật hơn trong mắt nhân viên với những điều đặc quyền mà công ty mang lại cho họ. Tạo nên các trả inghiệm mang lại lợi ích cho nhân viên theo một cách khác thường; một điều gì đó mà chưa ai từng đã đưa ra một số quy tắc sau cho việc Tuyển dụng Nhân tài trong báo cáo về Nguồn Nhân Lực của mìnhQuy tắc cũQuy tắc mớiChuyên viên tuyển dụng sử dụng các công cụ trực tuyến để tìm kiếm ứng viênChuyên viên tuyển dụng sử dụng nhiều loại công cụ như trang mạng xã hội như Twitter, Facebook, Glassdoor, Pinterest, và Quora cũng như LinkedIn để tìm kiếm ứng viênThương hiệu nhà tuyển dụng được xem là chiến lược của phòng marketingThương hiệu tuyển dụng là một chiến lược toàn diện, để tiếp cận được tất cả các kênh và nguồn ứng viên tiềm năngChuyên viên tuyển dụng vận hành quy trình tuyển dụngChuyên viên nhân sự cùng nhà tuyển dụng cùng hợp tác qua tất cả các quy trình tìm kiếm, tận dụng các mối quan hệ, dựa trên yếu tố văn hoá và đưa ra các tiêu chí tuyển dụng thành tả công việc chỉ đưa ra những gì công ty yêu cầu từ ứng viên tiềm năngMô tả công việc tập trung vào nhu cầu của ứng viên – một chiến thuật để thu hút nhiều hơn gấp 3 lần số lượng hồ sơ ứng tuyểnHệ thống theo dõi đơn ứng tuyển là hệ thống duy sử dụng công nghệ thông tin duy nhất trong phòng nhân sựCông ty có nền tảng công nghệ dành cho thu hút nhân tài, cho phép quản lý các nguồn hồ sơ, phỏng vấn qua video, quản lý phỏng vấn, mối quan hệ với ứng viên và ngay cả sau khi ứng viên được tuyển dụngQuy trình thu hút nhân tài được xây dựng dựa trên tính hiệu quả, và tốc độ tuyển dụng có lợi cho doanh nghiệpỨng viên và nhà tuyển dụng là trọng tâm của quy trình thu hút nhân tài, quy trình sẽ được hiệu chỉnh để giúp nâng cao trải nghiệm của ứng viên trong hành trình thu hút nhân tài của công tyNgoài các chiến lượng nền tảng, các công ty còn cần phải nhìn vào các khía cạnh sauƯu tiên trải nghiệm của nhân viên Các công ty cần phải định vị nhân viên’ như là ưu tiên số 1 của công ty bởi ngày nay chỉ có nguồn nhân tài mới là cốt lõi phát triển công ty vững mạnh. Một môi trường tràn đầy động lực cần có các trang thiết bị tập thể dục thể hình nhằm đảm bảo sức khoẻ và dinh dưỡng cho đội ngũ lao động. Các công ty sẽ phải tạo nên một nền tảng quản lý nhân viên với các chính sách mở và tự do ngôn luận. Không chỉ như vậy, các công ty ngày nay cần phải chỉnh sửa chính sách để khuyến khích nhân viên đưa ra các đề xuất đóng góp cho công ty, tăng sự tham gia và trao quyền cho nhân viên đối với công ty. Bên cạnh đó, các phản hồi về công ty và ngược lại cần chứng minh được tính hiệu lý hiệu suất làm việc; bộ mặt mới Không còn cần thiết phải đánh giá nhân viên dựa trên các thước đo cũ nữa, mọi thứ cần được thay đổi! Các phương pháp đánh giá minh bạch hơn như phản hồi giữa các nhân viên với nhau cần được áp đạo mới Vai trò lãnh đạo cần được tái định nghĩa. Bước vào kỷ nguyên số hoá, các nhà lãnh đạo ngày nay cần phải có khả năng bắt kịp xu hướng công nghệ. Điều này sẽ dễ dàng đạt được nếu những thành viên trẻ được đề bạt và đào tạo để trở thành lãnh đạo. Lãnh đạo ngày nay cần phải sáng tạo, có khả năng dẫn dắt các thành viên trong nhóm, dám nghĩ dám làm, không e ngại chia sẻ quyền hạn và kiến thức và hơn hết là luôn học tập và thay đổi không ngừng sự theo xu hướng số hoá Chuyên gia nhân sự không còn phải dính chặt với công việc xem và lọc hồ sơ, tìm kiếm nhân sự mới và quản lý bảng lương của họ, bởi những nhiệm vụ này có thể chuyển dần sang hệ thống tự động và vai trò mới hơn cần được giao xuống cho bộ phận Nhân sự. Nhân sự thời nay cần phải quan sát các trải nghiệm của nhân viên, giúp công ty đạt được mục tiêu thu hút nhân tài tốt hơn và đào tạo nguồn nhân tài hiện có để mang lại nhân viên và đội ngũ lãnh đạo giá trị cho công ty trong những năm sắp tới. Quy trình trong bộ phận nhân sự cần phải được số hoá, nhân sự trẻ cần phải được tuyển mới thêm và đào tạo về công nghệ phải được áp dụng ngay lập tích nguồn nhân lực Một công ty tốt phải hiểu được hết nhân viên của mình, và một công ty hiện đại cũng phải hiểu hết các nhân viên của mình luôn! Thu thập các thông tin về nhân viên trở thành việc quan trọng hơn bao giờ hết. Có một cơ sở dữ liệu nhân tài là điều bắt buộc!Bình đẳng, đa dạng và hoà nhập Một công ty ngày nay có thể hướng tới việc phát triển môi trường hoàn toàn không thiên vị. Các chính sách cần được minh bạch hoá với những hoạt động công bằng, sử dụng các phương pháp đa dạng trong tuyển dụng và đánh giá nhân viên. Đối với việc giữ chân nhân viên, công ty bắt buộc phải hướng tới sự hội nhập và công tất cả các nỗ lực trên được bỏ ra, các công ty sẽ sớm rút ngắn khoản cách giữa sự phát triển công nghệ và sự phát triển của hiệu suất làm việc và doanh thu công “Việc làm tại các công ty hàng đầu”
Công nghệ đang trở thành một yếu tố không thể thiếu trong mọi doanh nghiệp. Trong suốt hai thập kỷ qua, thế giới đã đánh dấu sự gia tăng đáng kể trong việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động kinh doanh. Thông qua sự tiến bộ của công nghệ, thiết bị phần cứng và internet, các doanh nghiệp nhỏ cũng dần có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế so với trước đây. Công nghệ giúp các doanh nghiệp dễ dàng xử lý các hoạt động kinh doanh hàng ngày chính xác và ổn định. Nó mang lại những lợi ích hữu hình và vô hình cho mọi doanh nghiệp, đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Dưới đây là những lợi ích điển hình mà công nghệ có thể giúp cho doanh nghiệp của bạn tăng trưởng đều đặn với chi phí tối Xây dựng thương hiệu tốt hơnỨng dụng các giải pháp công nghệ hiện đại giúp cho doanh nghiệp tiếp cận khách hàng mục tiêu tốt hơn đáng kể so với trước đây. Điều này đặc biệt đúng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc giành thị trường ở giai đoạn đầu. Việc xây dựng giải pháp công nghệ là một cách tiếp cận rất hiệu quả, tối ưu chi phí nhưng vẫn có thể tối đa hóa khả năng nhận biết thương hiệu doanh nghiệp của bạn, thay vì dựa vào các phương pháp tiếp thị cổ điển, truyền thống, vốn tiêu tốn rất nhiều ngân sách. Tất nhiên, mọi thứ đều có giá trị của nó, chúng ta cũng không nên đánh giá thấp lợi ích của các phương thức tiếp thị truyền thống. Nhưng những thứ như quảng cáo kỹ thuật số digital marketing chắc chắn không nên bị đánh giá thấp vì tiềm năng của chúng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp ngày nay đang dần trở nên lớn hơn bao giờ Xây dựng dữ liệu khách hàng tiềm năng và chăm sóc khách hàng tốt hơnThị trường cạnh tranh cùng với sự phát triển của công nghệ khiến cho việc xây dựng một cơ sở dữ liệu khách hàng tiềm năng là cấp bách hơn cả, đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn không có ngân sách nhiều để chạy những hoạt động marketing để hớt váng khách hàng. Việc xây dựng một ứng dụng riêng cho thương hiệu hoặc doanh nghiệp của mình sẽ giúp các doanh nghiệp quản lý tốt cơ sở dữ liệu khách hàng của mình và cải thiện trải nghiệm khách hàng đối với sản phẩm và dịch vụ thông qua các hoạt động chăm sóc khách hàng, hậu mãi ngay trên ứng dụng với chi phí tối ưu đến mức tối đa. Ngoài ra, việc tích hợp các mạng xã hội vào các hoạt động tiếp thị của công ty chắc chắn là điều các nhà quản trị chiến lược truyền thông và tiếp thị cân nhắc thực hiện sớm nhất có Giảm thiểu chi phí trên diện rộngCó nhiều ý nghĩ sai lầm là việc ứng dụng công nghệ hoặc số hóa thường sẽ rất tốn kém. Trong khi thực tế lại hoàn toàn trái ngược, với những giải pháp và dịch vụ phù hợp sẽ giúp doanh nghiêp tối ưu và tiết kiệm chi phí rất nhiều trong chiến lược kinh doanh trung và dài hạn. Hiện nay có rất nhiều công cụ kỹ thuật số dưới dạng SaaS giúp doanh nghiệp có thể thu được rất nhiều lợi ích mà vẫn giữ ngân sách trong tầm kiểm soát của mình. Ví dụ các giải pháp như AI có thể phân tích toàn bộ lịch sử tài chính của bạn, gợi ý các chiến lược kinh doanh phù hợp thông qua phân tích biểu đồ và số liệu mà thậm chí chính bạn cũng chưa nhìn thấy, bất kể bạn có kinh nghiệm như thế nào về tài chính. Điều này cho phép doanh nghiệp khai thác tối đa những bộ phận đang hoạt động hiệu quả, và cắt giảm chi phí ở những lĩnh vực khác đang tiêu tốn tài nguyên doanh thể bạn quan tâmHội nghị Thượng đỉnh Năng lượng Thế giới 2023Thời tiết như thế nào ở Toronto vào Tháng 7 năm 2023 tính bằng độ C?Zach Bryan có đến Úc năm 2023 khôngNăm học 2023 bắt đầu khi nào?Ronaldo sẽ đến đội nào vào năm 2024?4/ Dễ dàng mở rộng quy mô và quản lý dự án nâng caoViẹc ứng dụng thành công công nghệ vào hoạt động doanh nghiệp giúp việc mở rộng mô hình kinh doanh dễ dàng hơn. Các nhà hoạch định chiến lược gần như có những báo cáo, số liệu phân tích tức thời từ các phòng ban liên quan để có thể ra quyết định và triển khai nhanh chóng. Đồng thời giúp cho việc quản lý dự án thực hiện dễ dàng hơn nhiều từ sự trợ giúp của các phần mềm quản lý dự án. Không chỉ vậy, bạn cũng sẽ luôn có cái nhìn tổng quan về mọi hoạt động của người và của, những tài sản doanh nghiệp, hiện đang đóng góp bao nhiêu vào hoạt động kinh doanh của tổ chức. Điều này rất quan trọng đối với các công ty vừa và nhỏ, nơi tối ưu hóa liên tục là rất quan Cải thiện bảo mậtBảo mật, tiếp tục là một vấn đề cấp bách đối với nhiều công ty và điều này không chỉ là vấn đề đối với những doanh nghiệp lớn trên thị trường. Các doanh nghiệp nhỏ cũng cần phải cẩn thận về tình trạng an ninh của họ. Hay có thể nói là họ cần phải chú ý hơn nữa. Một công ty lớn ít nhất họ vẫn có đủ khả năng về tài nguyên tài chính, bộ phận xử lý khủng hoảng, pháp lý... để đứng vững sau một vụ tấn công an ninh mạng lớn. Mặt khác, đối với một doanh nghiệp nhỏ hơn, điều này có thể trở thành thảm họa và có thể là dấu chấm hếu đối với hoạt động kinh doanh của công ty. Không thiếu các trường hợp liên quan đến các công ty vừa và nhỏ đã bị tấn công và xâm phạm dữ liệu trên quy mô lớn lớn khiến thông tin bị rò rỉ theo nhiều cách, gây tổn thất nặng nề đến doanh kếtĐó là những lợi ích tiêu biểu khi doanh nghiệp ứng dụng công nghệ vào hoạt động kinh doanh của mình. Tùy thuộc vào mô hình và quy mô thực tế của doanh nghiệp, sử dụng đúng công cụ cần thiết sẽ mang lại nhiều kết quả khác biệt, cải thiện các chỉ số mà chính bạn cũng không thể ngờ. Câu hỏi được đặt ra là giữa một rừng công nghệ, với hàng trăm nhà cung cấp nội ngoại như hiện nay, đâu mới là công cụ thật sự cần thiết cho doanh nghiệp, đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ với ngân sách giới hạn?Tại ODOTECH, chúng tôi, những chuyên gia từ ngành tài chính kết hợp với đội ngũ kỹ thuật chuyên nghiệp, luôn lắng nghe và thấu hiểu những vấn đề các doanh nghiệp đang gặp phải và tư vấn những giải pháp chuyển đổi số digital transformation phù hợp nhất, với chi phí tối ưu nhất, nhằm cải thiện các chỉ số doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tăng trưởng đều đặn trong ngắn và dài hạn. Với hơn 10 năm trong ngành, ODOTECH vinh dự được là đối tác tư vấn công nghệ chiến lược cho các doanh nghiệp lớn như Mega Market, Saigontourist, Điện máy Thiên Hòa, TiNi World, nơi chúng tôi chuyên cung cấp các giải pháp xây dựng ứng dụng OEM cho thương hiệu, xây dựng giải pháp quản lý đặt hàng và giao tiếp, chương trình khách hàng thân thiết, và các ứng dụng quản lý để bị bỏ lại phía sau, hãy liên hệ ngay hôm nay và để chúng tôi đồng hành với sự tăng trưởng của doanh nghiệp thông tin chi tiết vui lòng liên hệAnh Phan AndyBusiness Development Manager at ODOTECH0966226722 - Công nghệ của doanh nghiệp phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Công nghệ ngày nay là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với một doanh nghiệp. Nhờ có công nghệ cao, sản phẩm của doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh trên thị trường nên tiêu thụ với khối lượng lớn hơn, bán với mức giá cao hơn và khả năng thu được lợi nhuận cao là rất khả quan. Công nghệ cuả doanh nghiệp là một trong các yếu tố quyết định khả năng thâm nhập thị trường của sản phẩm cũng như có ảnh hưởng lớn đến khả năng xây dựng lòng trung thành của khách hàng. Khả năng nghiên cứu và phát triển công nghệ cũng như khả năng cập nhật và ứng dụng công nghệ mới làm cho doanh nghiệp có thể nâng cao được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp theo từng thời kỳ phù hợp với sự biến động của trình độ tiêu dùng của thị trường. Đây cũng là một trong các yếu tố được xem xét để đánh giá khả năng đổi mới và cải tiến sản phẩm cũng như khả năng phát triển sản phẩm mới trong một doanh nghiệp. Tất cả chúng ta đều biết rằng bất kỳ sản phẩm nào cũng sẽ lỗi thời và phải loại bỏ để nhường chỗ cho các sản phẩm mới phù hợp hơn. Nếu doanh nghiệp không có khả năng cải tiến và phát triển sản phẩm mới thì con đường phát triển bền vững của doanh nghiệp cũng coi như bị chặn đứng. Công nghệ ngày nay được hiểu theo nghĩa rộng chứ không chỉ hiểu công nghệ là dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị. Trong phạm vi của nó, công nghệ còn bao gồm cả con người. Do đó, chiến lược nâng cấp công nghệ mới của doanh nghiệp phải đi liền với các chiến lược về con người, chiến lược đào tạo và tái đào tạo người lao động. Các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thông qua hệ thống các chỉ tiêu + Số lượng bằng phát minh sáng chế, các bí quyết kỹ thuật mà doanh nghiệp là chủ sở hữu + Trình độ công nghệ chung của doanh nghiệp, phản ánh trên cơ sở trình độ công nghệ doanh nghiệp đang áp dụng + Các chiến lược phát triển công nghệ của doanh nghiệp trong thời gian tới + Năng lực của doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu và phát triển R&D….. + Ngân sách của doanh nghiệp dành cho hoạt động nghiên cứu và phát triển R&D….. + Hoạt động xuất nhập khẩu công nghệ hàng năm. Ngày nay, công nghệ của doanh nghiệp trở thành yếu tố vô cùng quan trọng, nhiều khi quyết định cả việc sản phẩm của doanh nghiệp có khả năng thâm nhập vào thị trường nước ngoài hay không. Ví dụ như EU qui định sản phẩm nhập khẩu vào EU phải được trên dây chuyền công nghệ có trình độ tương đồng với công nghệ của EU. Vấn đề công nghệ là vấn đề khó với các doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam chuyển qua cơ chế thị trường đã được một thời gian, tuy nhiên, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam rất lạc hậu, thường sau thế giới từ 2 đến 3 thế hệ. Để theo kịp trình độ công nghệ của các quốc gia trong khu vực cũng đòi hỏi nỗ lực không nhỏ từ phía nhà nước lẫn doanh nghiệp. Để nâng cao trình độ công nghệ, các doanh nghiệp Việt Nam cần xây dựng chiến lược phát triển công nghệ một các cụ thể và dài hạn, trên cơ sở đó, từng bước nâng cấp, cập nhật công nghệ mới. Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trêncông nghệ đối với môi trường makertingmôi trường công nghệ ảnh hưởng tới doanh nghiệp,
Môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến doanh nghiệp ra sao là chủ đề của bài viết dưới đây. Hãy cùng abby card tìm hiểu ngay chủ đề này nhé! Quý khách hãy đăng ký để nhận Khuyến Mãi bên dưới của nhà cái Fi88 1. Khái niệm doanh nghiệp – Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kì quốc gia nào, doanh nghiệp cũng là đơn vị cơ sở, một tế bào của nền kinh tế tạo ra của cải vật chất cho xã hội, trực tiếp phối hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý nhằm tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ một cách có hiệu quả nhất. – Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu trên thị trường, thông qua đó để tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. 2. Môi trường kinh doanh là gì? Ta có khái niệm Môi trường là tập hợp các yếu tố, các điều kiện thiết lập nên khung cảnh sống của một chủ thể, từ đó người ta thường cho rằng môi trường kinh doanh là tổng hợp các yếu tố, các điều kiện có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Các yếu tố, các điều kiện cấu thành môi trường kinh doanh luôn luôn có quan hệ tương tác với nhau và đồng thời tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng mức độ và chiều hướng tác động của các yếu tố, điều kiện lại khác nhau. Trong cùng một thời điểm, với cùng một đối tượng có yếu tố tác động thuận, nhưng lại có yếu tố tạo thành lực cản đối với sự phát triển của doanh nghiệp. 3. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Khi nói đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, người ta thường chia ra môi trường bên trong và môi trường bên ngoài Môi trường kinh doanh bên ngoài của doanh nghiệp bao gồm – Môi trường vĩ mô môi trường tổng quát – Môi trường vi mô môi trường tác nghiệp Khi chúng ta phân tích môi trường bên ngoài doanh nghiệp nghĩa là chúng ta đang phân tích để thấy được thách thức và cơ hội mà bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới doanh nghiệp kinh doanh. Khi phân tích môi trường bên trong của doanh nghiệp là khi nhà doanh nghiệp muốn thấy được bản chất của doanh nghiệp, điểm mạnh và điểm yếu để có những giải pháp thích hợp nhất. 4. Môi trường kinh doanh vĩ mô ảnh hưởng đến doanh nghiệp – Các yếu tố kinh tế Môi trường này bao gồm luật pháp các chính sách và cơ chế của nhà nước đối với nghành kinh doanh. Nhà quản trị phải lưu ý tới các yếu tố trên nhằm tiên đoán những thay đổi quan trọng về chính trị trong nước, khu vực và trên thế giới để có những quyết sách đúng đắn trong kinh doanh. Sự ổn định chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp, vì rủi ro do môi trường chính trị là rất lớn. – Môi trường công nghệ kỹ thuật. Hầu như tất cả các hàng hoá sản phẩm được tạo ra hiện nay đều gắn liền với những thành tựu khoa học kỹ thuật -công nghệ. Có thể nói rằng, chúng ta đang sống trong thời kỳ kỹ thuật công nghệ phát triển. Kỹ thuật – công nghệ với tư cách là một bộ phận của môi trường kinh doanh bên ngoài tác động tác động đến doanh nghiệp trên hai mặt + Thứ nhất, công nghệ bên ngoài tác động đến doanh nghiệp thông qua công nghệ bên trong. Đó chính là tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật thể hiện thông qua phát minh, ứng dụng chúng vào cuộc sống đã làm cho công nghệ bên trong của doanh nghiệp nhanh chóng lạc hậu. + Thứ hai, công nghệ làm xuất hiện các đối thủ cạnh tranh tiềm năng, đó là những đối thủ kinh doanh các sản phẩm có thể thay thế sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh. – Môi trường tự nhiên Bao gồm các yếu tố liên quan Tài nguyên thiên nhiên, đất đai, khí hậu thời tiết … Thực tế cho thấy sự ô nhiễm không khí và môi trường xung quanh đã đến mực báo động. Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp và chính phủ là không thể thờ ơ với công việc này. Hiện nay, người ta đanh tìm cách đối phó với tình trạng ô nhiễm bằng những cách riêng của mình. Các yếu tố môi trường tự nhiên ảnh hưởng đến doanh nghiệp trên các mặt sau + Tạo ra thị trường cung ứng các yếu tố đầu vào cho các doanh nghiệp. + Tác động đến dung lượng và cơ cấu thị trường hàng tiêu dùng. + Tác động đến việc làm và thu nhập của dân cư, do đó ảnh hưởng đến sức mua và khả năng tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp. – Môi trường văn hoá xã hội. Các yếu tố văn hoá xã hội có liên quan với nhau nhưng tính chất tác động của chúng có thể khác nhau. Thực tế người ta luôn sống trong môi trường văn hoá đặc thù, tính đặc thù của mỗi nhóm người vận động theo hai khuynh hướng là giữ lại các tinh hoa văn hoá dân tộc, một khuynh hướng khác là hoà nhập với các nền văn hoá khác. Nhà quản trị là người phải biết nắm vững cả hai khuynh hướng đó để có giải pháp thâm nhập sản phẩm của nhà sản xuất một cách thích hợp vào từng loại thị trường có nền văn hoá khác nhau. Văn hoá xã hội nhìn chung ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp trên các mặt sau + Văn hoá hình thành nên thói quen tiêu dùng của các nhóm dân cư, từ đó hình thành nên thói quen, sở thích, cách cư sử của khách hàng trên thị trường. + Văn hoá ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển nền văn hoá bên trong của doanh nghiệp. + Văn hoá quy định cách thức mà doanh nghiệp có thể dùng để giao tiếp với bên ngoài. Như vậy, có thể thấy rằng những tác động của văn hoá đến doanh nghiệp là rất lớn, đó chính là những cách thức về văn hoá mà doanh nghiệp luôn phải đối đầu. 5. Môi trường kinh doanh vi mô ảnh hưởng đến doanh nghiệp – Khách hàng Khách hàng là người đang và sẽ mua hàng của doanh nghiệp. Đối với bất cứ một doanh nghiệp nào khách hàng luôn là yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất tới sự sống còn của doanh nghiệp. Tính chất quyết định của khách hàng thể hiện trên các mặt sau Khách hàng quyết định sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp được bán theo giá nào. Trên thực tế, doanh nghiệp chỉ có thể bán với giá mà người tiêu dùng chấp nhận. Khách hàng quyết định doanh nghiệp bán sản phẩm như thế nào. Phương thức bán và phương thức phục vụ khách hàng là do khách hàng lựa chọn, vì trong nền kinh tế thị trường phát triển, người mua có quyền lựa chọn người bán theo ý thích của mình và đồng thời quyết định phương thức phục vụ của người bán. – Đối thủ cạnh tranh Doanh nghiệp luôn phải đối phó với hàng loạt đối thủ cạnh tranh. Vấn đề quan trọng ở đây là không được coi thưòng bất kỳ đối thủ nào, nhưng cũng không coi tất cả đối thủ là thù địch. Cách sử lý khôn ngoan nhất không phải là hướng mũi nhọn vào đối thủ của mình mà ngược lại vừa phải xác định, điều khiển và hoà giải, lại vừa phải hưóng suy nghĩ và sự quan tâm của mình vào khách hàng. – Nhà cung ứng. Người cung cấp đối với doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng, nó bảo đảm cho hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành ổn định theo kế hoạch đã định trước. Trên thực tế người cung cấp thường được phân thành ba loại chủ yếu Loại cung cấp thiết bị, nguyên vật liệu; loại cung cấp nhân công; loại cung cấp tiền và các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm. Như vậy, mỗi doanh nghiệp cùng một lúc có quan hệ tới nhiều nguồn cung cấp thuộc cả ba loại trên. Vấn đề đặt ra là yêu cầu của việc cung cấp phải đầy đủ về số lượng, kịp thời về thời gian, đảm bảo về chất lượng và ổn định về giá cả 6. Môi trường kinh doanh bên trong ảnh hưởng đến doanh nghiệp – Yếu tố vật chất + Tiền vốn Vốn là tiền đề vật chất cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. + Nhân sự Con người là yếu tố quyết định mọi sự thành bại của hoạt động sản xuất kinh doanh. Bởi vậy, doanh nghiệp phải chú ý tới việc sử dụng con người, phát triển nhân sự, xây dựng môi trường văn hoá và nề nếp tổ chức của doanh nghiệp. – Yếu tố tinh thần + Truyền thống, thói quen Các truyền thống, thói quen là những yếu tố mang tính rất riêng của doanh nghiệp. Nó được hình thành, tồn tại và phát triển vừa khách quan vừa chủ quan trong quá trình vận động của doanh nghiệp. + Nền văn hoá Như ta đã biết những doanh nghiệp có nền văn hoá phát triển sẽ có không khí làm việc say mê luôn đề cao sự chủ động sáng tạo. + Giá trị ước vọng của lãnh đạo Lãnh đạo theo cách lãnh đạo dân chủ lắng nghe ý kiến đóng góp của của mọi người. Ước vọng đó được thể hiện qua các quyết định của ban lãnh đạo. Cùng với sự phấn đấu của cán bộ công nhân viên. Xem thêm 6 yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến môi trường kinh doanh 7. Mối quan hệ giữa môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến doanh nghiệp Mối quan hệ giữa môi trường kinh doanh và doanh nghiệp được gọi là mối quan hệ hai chiều. Một mặt môi trường kinh doanh tạo điều kiện cho doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp tận dụng các thuận lợi đó thì sẽ dễ dàng hoạt động hơn, ngược lại nó cũng có những ràng buộc thách thức lên doanh nghiệp kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp không có sự thích ứng với môi trường ấy. Mặt khác doanh nghiệp cũng có những tác động lên môi trường kinh doanh có thể gây dựng nên những phản ứng tích cực cho môi trường như tạo việc đóng góp vốn đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng …tuy nhiên nó cũng có thể huỷ hoại môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bằng sự ô nhiễm, gây ra nạn thất nghiệp, các tệ nạn xã hội, tham ô tiêu cực… Quý khách hãy đăng ký để nhận Khuyến Mãi bên dưới của nhà cái Fi88 Như vậy, môi trường kinh doanh ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp cả tiêu cực và tích cực. Đứng trước sự tác động của môi trường kinh doanh, doanh nghiệp cần có tâm lý sẵn sàng, kiểm soát được tình hình, quản lý được quá trình sản xuất, sản phẩm, dịch vụ của mình sao cho sự tác động tiêu cực ít nhất. Trong đó, được biết đến là một website giúp doanh nghiệp có thể quản lý doanh nghiệp dễ dàng hơn bằng các dịch vụ quản lý bán hàng, cổng vận chuyển, tăng tốc bán hàng trên các trang thương mại điện tử,… khiến công việc quản lý doanh nghiệp đạt hiệu quả tối ưu nhất.
ArticlePDF AvailableAbstractBài viết nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN của Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy logit với dữ liệu thời điểm gồm 2649 doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có các yếu tố quy mô doanh nghiệp, sự kiểm tra của cơ quan chức năng, chứng nhận chất lượng quốc tế, xuất khẩu, đổi mới sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật từ chính phủ ảnh hưởng tích cực đến đến việc đổi mới công nghệ, trong khi đó thì yếu tố chi phí phi chính thức ảnh hưởng tiêu cực đến việc đổi mới công nghệ. Từ kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị được đưa ra nhằm gia tăng việc đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for freeAuthor contentAll content in this area was uploaded by Nguyen Thi Anh Van on Mar 09, 2022 Content may be subject to contentAll content in this area was uploaded by Nguyen Khac Hieu on Oct 01, 2021 Content may be subject to may be subject to copyright. Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 167 Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam Factors affect the technology innovation at small and medium Vietnamese enterprises Nguyễn Thị Anh Vân1*, Nguyễn Khắc Hiếu1 1Khoa Kinh Tế- ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật TPHCM, Việt Nam *Tác giả liên hệ, Email anhvan DOI Ngày nhận 24/09/2019 Ngày nhận lại 16/03/2020 Duyệt đăng 07/05/2020 Từ khóa đổi mới công nghệ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, hồi quy Logit Keywords technology innovation, Small and Medium Enterprises SMEs, Logit regression Bài viết nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN của Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy logit với dữ liệu thời điểm gồm 2649 doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có các yếu tố quy mô doanh nghiệp, sự kiểm tra của cơ quan chức năng, chứng nhận chất lượng quốc tế, xuất khẩu, đổi mới sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật từ chính phủ ảnh hưởng tích cực đến đến việc đổi mới công nghệ, trong khi đó thì yếu tố chi phí phi chính thức ảnh hưởng tiêu cực đến việc đổi mới công nghệ. Từ kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị được đưa ra nhằm gia tăng việc đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. ABSTRACT This research focuses on factors affectting technology innovation at small and medium Vietnamese enterprises SMEs. Logit regression is used with crossectional data of 2469 small and medium Vietnammese enterprises. The results show that some factors have positive effect on technology innovation such as firm size, technical compliance inspections by government officials, international quality certification, exports, product innovation, and technical assistance of Government whereas informal cost has negative impact on technology innovation. From the results, some solutions have been suggested in order to increase technology innovation of small and medium enterprises in Vietnam. 1. Giới thiệu Hiện nay, với cuộc cách mạng công nghệ đang là mấu chốt để quyết định thành bại của nhiều doanh nghiệp. Trên thế giới, việc đổi mới công nghệ diễn ra một cách nhanh chóng và mạnh mẽ. Tuy nhiên ở Việt Nam, đặc biệt tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vấn đề đổi mới công nghệ đang là một thách thức. Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ KH và CN cho thấy, năm 2015 cả nước có gần 600 nghìn doanh nghiệp, với hơn 90% là DNVVN và phần lớn các doanh nghiệp này đều đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới từ hai đến ba thế hệ Minh Nhat, 2015. Và theo báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 168 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 2019 của Diễn đàn kinh tế thế giới WEF cho thấy, trình độ công nghệ của Việt Nam hiện nay đang xếp hạng 67/141 quốc gia được khảo sát. Trong khi đó việc đổi mới công nghệ có tương quan thuận đến tăng trưởng của doanh nghiệp, tức là việc đổi mới công nghệ có khả năng tăng doanh thu, lợi nhuận, và khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp UNITED NATIONS UNIVERSITY, 2015. Theo khảo sát các DNVVN cho thấy năm 2015 chỉ 4,9% các DN được khảo sát có đổi mới công nghệ UNITED NATIONS UNIVERSITY, 2015. Tại sao tỷ lệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam đổi mới công nghệ thấp? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam? Đây là những câu hỏi nghiên cứu quan trọng cần được trả lời. Tuy nhiên, các nghiên cứu về đổi mới công nghệ tại Việt Nam hầu hết chỉ mang tính thống kê và các nhận định của các chuyên gia Kim Hien, 2015; Minh Nhat, 2015; Nguyen, Vu, & Nguyen 2018, rất ít nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại DNVVN. Chính vì vậy tác giả thực hiện nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ tại các công ty vừa và nhỏ của Việt Nam”. Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại các DNVVN của Việt Nam, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm gia tăng hoạt động đổi mới công nghệ tại Việt Nam. 2. Cơ sở lý thuyết Các khái niệm liên quan Khái niệm liên quan đến đổi mới công nghệ Đổi mới công nghệ Theo OECD 2005, đổi mới công nghệ bao gồm các sản phẩm và quy trình mới và những thay đổi công nghệ quan trọng của sản phẩm và quy trình. Một đổi mới đã được thực hiện nếu nó đã được giới thiệu trên thị trường. Đổi mới công nghệ là không thể tránh khỏi đối với các công ty muốn phát triển và duy trì tính cạnh tranh cạnh hoặc đạt được mục tiêu thâm nhập vào thị trường mới Souitaris, 2002. Đổi mới công nghệ là việc thay thế một phần chính hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiến tiến hơn, hiệu quả hơn. Đổi mới công nghệ có thể nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất hoặc có thể nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ thị trường. Theo Branscomb 2001, đổi mới công nghệ là việc thực hiện thành công trong thương mại hoặc quản lý của một ý tưởng kỹ thuật mới. Những đổi mới được phân biệt với các phát minh. Theo Frankelius 2009 đổi mới có liên quan đến, nhưng không giống như phát minh, vì đổi mới có nhiều khả năng liên quan đến việc triển khai thực tế một phát minh tức là khả năng mới / cải tiến để tạo ra tác động có ý nghĩa trong thị trường hoặc xã hội, và không phải tất cả các đổi mới đòi hỏi một phát minh Bhasin, 2012. Đổi mới công nghệ đóng một vai trò ngày càng nổi bật trong sự tăng trưởng của các nền kinh tế công nghiệp hàng đầu. Các mô hình của quá trình đổi mới công nghệ đã phát triển theo thời gian và hiện có thể tính đến nhiều yếu tố bên ngoài công ty ảnh hưởng đến khả năng đổi mới Branscomb, 2001. Theo Cancino, Paza, Ramaprasad, và Syn 2018, đổi mới công nghệ được coi là phương tiện để tối ưu hóa việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực quan trọng trong các hệ thống kinh tế xã hội-sinh học. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng khái niệm đổi mới công nghệ là sự thay đổi trong quy trình hoặc trong công nghệ của các máy móc thiết bị. Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 169 Doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP của chính phủ, nếu doanh nghiệp có từ trên 10 đến 200 lao động là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và doanh nghiệp có số lao động từ trên 200 đến 300 là doanh nghiệp có quy mô vừa. Định nghĩa trên áp dụng cho tất cả các ngành trừ thương mại và dịch vụ. Đối với ngành thương mại và dịch vụ, doanh nghiệp nhỏ có số lao động từ trên 10 đến 50, doanh nghiệp vừa có số lao động từ trên 50 đến 100. Trong nghiên cứu này khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được hiểu theo định nghĩa trên. Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan Hiện nay, vấn đề đổi mới công nghệ đang được quan tâm mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt với sự phát triển mạng mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp Vì vậy có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này. Các nghiên cứu tập trung về hai khía cạnh các động cơ của để các công ty đổi mới công nghệ và ảnh hưởng của việc đổi mới công nghệ đến công ty như doanh thu, lợi nhuận, chi phí, tính cạnh tranh.... Trong phạm vi liên quan đến đề tài, tác giả lược khảo một số nghiên cứu liên quan đến câu hỏi các yếu tố nào ảnh hướng đến việc đổi mới công nghệ trong công ty. Theo Gnyawali và Park 2009 cho rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối mặt với những thách thức to lớn khi cố gắng theo đuổi các đổi mới công nghệ. Chính vì vậy họ đã đưa ra một mô hình khái niệm gồm nhiều yếu tố để kích thích sự áp dụng đổi mới công nghệ cho các nhà quản lý DNVVN và các nhà hoạch định chính sách. Mô hình chỉ ra rằng sự hợp tác chiến lược tức là vừa hợp tác vừa cạnh tranh sẽ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng đổi mới công nghệ. Trong đó chiến lược hợp tác ngành bao gồm vòng đời sản phẩm ngắn; sự hội tụ công nghệ, chi phí nghiên cứu và phát triển cao. Tiếp theo Uzkurt, Kumar, Kimzan, và Sert 2012 nghiên cứu ảnh hưởng của sự biến động của môi trường đến sự đổi mới tại doanh nghiệp. Nhóm nghiên cứu khảo sát 156 doanh nghiệp DNVVN tại Thổ Nhỉ Kỳ. Kết quả cho thấy sự biến động về thị trường và sự biến động về công nghệ có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới tại các doanh nghiệp DNVVN. Từ kết quả nghiên cứu một số gợi ý được đưa ra nhằm tăng cường hoạt động đổi mới tại doanh nghiệp. Tiếp theo là một nghiên cứu tại khu vực Đông Nam Á, Thong 2015 nghiên cứu một mô hình về đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp nhỏ ở Singapore. Cuộc điều tra thông qua bảng câu hỏi được tiến hành tại 166 doanh nghiệp, đối tượng trả lời là các CEO của công ty. Kết quả phân tích dữ liệu cho thấy đặc điểm tính cách của CEO tính sáng tạo, kiến thức về đổi mới; đặc điểm của đổi mới và đặc điểm của tổ chức quy mô doanh nghiệp và mức độ hiểu biết của nhân viên ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận công nghệ. Ngược lại, đặc tính môi trường cạnh tranh không ảnh hưởng trực tiếp đến việc chấp nhận đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ. Gần đây, Rangus và Slavec 2017 nghiên cứu xem xét việc phân quyền, khả năng hấp thu và sự tham gia của nhân viên dựa trên sáng kiến đổi mới tác động đến sự đổi mới của công ty. Nghiên cứu khảo sát 421 doanh nghiệp tại sản xuất và dịch vụ tại Slovenia. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc phân quyền có ảnh hưởng tích cực đến việc đổi mới tại doanh nghiệp. Ngoài ra việc đổi mới cũng ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Tại Việt Nam, trong cuộc cách mạng công nghiệp và sự toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay thì việc đổi mới công nghệ thực sự đang là vấn đề cấp bách đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên theo nhận định của các chuyên gia thì tỷ lệ với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đổi mới công nghệ rất thấp. Chính vì vậy có khá nhiều đề tài phân tích về các nguyên nhân của việc hạn chế đổi mới công nghệ tại DNVVN. Ví dụ như Kim Hien 2015 cho rằng sử dụng công nghệ lạc hậu, phần lớn các doanh nghiệp của nước ta mới chỉ tham gia vào khâu thấp nhất trong chuỗi cung ứng là lắp ráp và gia công, cung cấp các phụ tùng thay thế, chứ chưa tham 170 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 gia sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Lý giải về việc này, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương công bố ngày 26/05/2015 trong báo cáo điều tra Năng lực cạnh tranh và công nghiệp ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam cho thấy, trở ngại lớn nhất của doanh nghiệp phải đối mặt chính là trở ngại chính. Theo đó, có tới 90% trong tổng số doanh nghiệp được điều tra trong thời gian 4 năm cho biết do gặp khó khăn về tài chính nên họ chưa có chiến lược cải tiến công nghệ. Báo cáo điều tra cũng cho biết, một trong những lý do gây cản trở doanh nghiệp đầu tư công nghệ là do môi trường kinh doanh và điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn ở trong tình trạng khó khăn. “Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam dựa vào vốn chủ sở hữu để cải tiến công nghệ, điều đó cho thấy khả năng đầu tư của doanh nghiệp bị hạn chế nguồn vốn có sẵn, ví dụ như lợi nhuận giữ lại”, báo cáo nêu rõ. Theo Minh Nhat 2015 trích dẫn từ thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ KH và CN cho thấy “hiện nay cả nước có gần doanh nghiệp, với hơn 90% là DNVVN. Phần lớn đều đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới từ hai đến ba thế hệ. Trong đó có đến 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước; 75% số thiết bị đã hết khấu hao; 50% thiết bị là đồ tân trang...; chỉ có 20% là nhóm ngành sử dụng công nghệ cao”. Gần đây, theo Nguyen và cộng sự 2018, DNVVN phải được coi là trung tâm của quá trình đổi mới công nghệ tại Việt Nam vì DNVVN chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho người lao động và huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên các quỹ nhà nước hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các DNVVN chưa phổ biến ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Tóm lại, các nghiên cứu về đổi mới công nghệ tại Việt Nam hầu hết chỉ mang tính thống kê và các nhận định của các chuyên gia, rất ít nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại DNVVN. Đề tài này sử dụng phương pháp định lượng nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại DNVVN thông qua phân tích dữ liệu 2649 DNVVN tại Việt Nam để các nhà nghiên cứu có cái nhìn khách quan và cụ thể hơn về vấn đề này. Sau khi lược khảo các nghiên cứu trước, tác giả đề xuất đưa vào mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau Đặc điểm chủ sở hữu Theo Thong 2015 đặc điểm tính cách của CEO tính sáng tạo, kiến thức về đổi mới ảnh hướng tích cực đến đổi mới công nghệ trong khi đó tại các công ty vừa và nhỏ thì CEO thường là chủ sở hữu. Theo Divisekera và Nguyen 2018, đặc điểm chủ sở hữu là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến việc đổi mới trong doanh nghiệp. Sarooghi, Libaers, và Burkemper 2015 cũng cho rằng sự sáng tạo của cá nhân trong tổ chức sẽ ảnh hưởng thuận đến việc đổi mới. Trong một doanh nghiệp nhỏ, chủ sở hữu thường chính là người ra quyết định, đặc điểm của chủ sở hữu là rất quan trọng trong việc xác định thái độ đổi mới của doanh nghiệp. Điều này là do phẩm chất của chủ sở hữu là các yếu tố quyết định phong cách quản lý chung của doanh nghiệp. Chính vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả đưa đặc điểm chủ sở hữu làm biến độc lập với các quan sát sau giới tính, trình độ học vấn, mức độ chấp nhận rủi ro và ý tưởng đổi mới sáng tạo. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H1 Đặc điểm chủ sở hữu có ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tron doanh nghiệp, cụ thể Nếu trình độ học vấn chủ sở hữu càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao, Chủ sở hữu có nhiều ý tưởng đổi mới thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao và chủ sở hữu thích rủi ro thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Quy mô doanh nghiệp Nhiều nghiên cứu đã khẳng định tác động của quy mô doanh Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 171 nghiệp đối với đổi mới sáng tạo. Theo Raisch và Birkinshaw 2008, các công ty lớn thường có các nguồn lực để thực hiện hiệu quả các hoạt động liên quan đến việc tạo ý tưởng và thực hiện ý tưởng, trong khi các doanh nghiệp nhỏ ít tài nguyên phải đưa ra lựa chọn và có thể không theo đuổi chiến lược để khiến công ty có thể đổi mới. Bên cạnh đó, các công ty lớn hơn có tài chính, tiếp thị tốt hơn, khả năng nghiên cứu mạnh mẽ hơn và kinh nghiệm phát triển sản phẩm / quy trình sâu hơn sẽ tạo điều kiện cho việc chuyển đổi ý tưởng sáng tạo vào các sản phẩm và quy trình mới Azadegan, Patel, & Parida, 2013; Branzei & Vertinsky, 2006. Các nghiên cứu khác đã lập luận rằng các công ty nhỏ hơn gặp bất lợi so với các công ty lớn hơn vì họ không có hệ thống hành chính phân cấp để giúp quản lý các quá trình kiến thức, hạn chế mức độ đổi mới mà họ có thể đạt được Lubatkin, Simsek, Ling, & Veiga, 2006. Từ các nghiên cứu trước, ta thấy quy mô doanh nghiệp có vai trò quan trọng đến đổi mới. Trong nghiên cứu này, quy mô doanh nghiệp được đại diện bởi các biến chi phí nghiên cứu và phát triển, doanh thu và số lượng lao động của doanh nghiệp. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H2 Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Mức độ cạnh tranh Theo Divisekera và Nguyen 2018 nghiên cứu sự đổi mới trong ngành du lịch tại Australia đã kết luận đặc điểm chủ sở hữu, cạnh tranh, quy mô công ty và môi trường là các yếu tố ảnh hướng đến đổi mới. Mức độ cạnh tranh càng cao thì khả năng doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ càng lớn. Chính vì vậy trong nghiên cứu này, tác giả đưa biến mức độ cạnh tranh vào mô hình làm biến độc lập. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H3 Doanh nghiệp có mức độ cạnh tranh càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Chứng nhận chất lượng Soto-Acosta, Popa, và Martinez-Conesa 2018 nghiên cứu mô hình của đổi mới tại công DNVVN tại Tây Ban Nha. Kết quả cho thấy quản trị trí thức có ảnh hưởng quan trọng đến đổi mới. Trong đó việc thiết lập một hệ thống vận hành, các thủ tục, chuẩn hóa quy trình sẽ ảnh hướng tích cực đến việc đổi mới. Hệ thống này tương đồng với việc một doanh nghiệp có chứng nhận hệ thống chất lượng. Một doanh nghiệp có chứng nhận hệ thống chất lượng sẽ tạo ra một cơ chế quản lý tốt, từ đó thúc đẩy việc đổi mới. Chính vì vậy trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đề xuất chứng nhận chất lượng là một biến độc lập có ảnh hướng đến đổi mới công nghệ trong tổ chức. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H4 Doanh nghiệp có khả năng có chứng nhận chất lượng càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Chính phủ Theo Guo, Xia, Zhang, và Zhang 2018, sự hỗ trợ của chính phủ thông qua quỹ nghiên cứu và phát triển ảnh hưởng tích cực đến đổi mới tại các doanh nghiệp Trung Quốc. Jugend và cộng sự 2018 nghiên cứu tại công ty Brazil cũng kết luận sự hỗ trợ của chính phụ rất quan trọng trong việc áp dụng đổi mới. Không chỉ hỗ trợ về mặt tài chính, việc hỗ trợ về khía cạnh phi tài chính cũng rất quan trọng. Theo Liang và Liu 2018, sự hỗ trợ của chính phủ Trung Quốc trong việc thiết lập các mạng lưới hợp tác giữa các công ty đã giúp các doanh nghiệp quang điện mặt trời đổi mới công nghệ tốt hơn. Từ đó, nghiên cứu này đã đưa các yếu tố liên quan đến chính phủ làm biến độc lập với các biến quan sát là sự hỗ trợ kỹ thuật của chính phủ, số lần kiểm tra về khía cạnh kỹ thuật của các cơ chức năng, và việc có phải chi trả các chi phí phi chính thức cho các lần kiểm tra hay không. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H5 Chính phủ có ảnh hưởng đến khả năng áp dụng đổi mới công nghệ , cụ thể có hỗ trợ kỹ thuật của chính phủ càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao, số lần kiểm 172 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 tra về khía cạnh kỹ thuật của các cơ chức năng càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao, việc chi trả các chi phí phi chính thức càng thấp thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Mô hình nghiên cứu Từ những nghiên cứu thực nghiệm trên ta thấy có nhiều yếu tố tác động đến việc áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng tại các doanh nghiệp. Để xác định được những yếu tố nào có tác động đến việc đổi mới công nghệ tại các DNVVN của Việt Nam, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm các yếu tố đã được lược khảo ở các nghiên cứu trước như sau Mức độ cạnh tranh, Đặc điểm chủ sở hữu, Quy mô doanh nghiệp, Chứng nhận chất lượng và Chính phủ. Bên cạnh đó, sau khi phỏng vấn chuyên sâu một số chuyên gia, nghiên cứu đề xuất thêm yếu tố Xuất khẩu và Đổi mới sản phẩm, theo các chuyên gia tại các Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp xuất khẩu thường có xu hướng đổi mới công nghệ nhiều hơn để theo kịp với môi trường bên ngoài; và việc đổi mới công nghệ thường theo sau việc đổi mới một sản phẩm nào đó, nhằm đảm bảo đổi mới sản phẩm thành công. Vì vậy tác giả đề xuất hai yếu tố Xuất khẩu và Đổi mới sản phẩm đóng vai trò làm hai biến giải thích của mô hình. Vậy mô hình bổ sung thêm hai giả thuyết nghiên cứu sau H6 Doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao H7 Doanh nghiệp có khả năng đổi mới sản phẩm càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Cuối cùng, mô hình nghiên cứu được đề xuất như sau Hình 1. Mô hình nghiên cứu Nguồn Tổng hợp của tác giả 3. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Phương pháp nghiên cứu Do biến phụ thuộc là biến định tính có hai trạng thái bao gồm có đổi mới công nghệ và không có đổi mới công nghệ nên ta có thể sử dụng mô hình hồi quy Logit hoặc Probit để phân tích dữ liệu. Các nghiên cứu thực nghiên cho thấy không có sự khác biệt lớn về kết quả hồi quy giữa mô hình Logit và Probit Gujarati, 2004. Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy logit nhằm xác định những yếu tố có ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại các DNVVN. Theo Gujarati 2004, mô hình hồi quy logit được trình bày như sau Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 173 1 Trong đó Pi= PrYi=1/Xi là xác suất để Yi nhận giá trị 1 với giá trị Xi cho trước hay là xác suất để doanh nghiệp có đổi mới công nghệ với các đặc điểm cho trước của doanh nghiệp. Xi là vector các biến độc lập, β1 là hằng số và β2 là vectơ các hệ số hồi quy, ui là sai số. Mô tả chi tiết cho việc mã hóa các biến số được trình bày trong bảng sau đây. Bảng 1 Giải thích các biến sử dụng trong mô hình 1 Doanh nghiệp có đổi mới công nghệ, quy trình 0 Doanh nghiệp không đổi mới công nghệ, quy trình Chi phí đầu tư nghiên cứu và phát triển, đơn vị tính triệu VNĐ Qy mô doanh nghiệp Doanh thu Đại diện bởi tổng doanh thu của doanh nghiệp năm 2014, đơn vị tính triệu VNĐ Ý tưởng đổi mới của chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý, mức độ từ 1-5 1 Không có ý tưởng đổi mới 5 Có rất nhiều ý tưởng đổi mới Thái độ né tránh rủi ro của chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý, mức độ từ 0-10 0 Rất sợ rủi ro 10 Rất thích rủi ro Số lần các cơ quan chức năng đi kiểm tra liên quan đến kỹ thuật trong năm 2014 Tổng số lao động trong công ty tính đến cuối năm 2014 Trình độ học vấn chủ sở hữu 1 Có trình độ trung cấp nghề trở lên 0 Không có trình độ trung cấp nghề trở xuống 1 Có cạnh tranh 0 Không có cạnh tranh 1 Doanh nghiệp là doanh nghiệp hộ gia đình 0 Các loại hình doanh nghiệp khác Chứng nhận chất lượng quốc tế 1 Doanh nghiệp có đạt giấy chứng nhận chất lượng quốc tế 0 Doanh nghiệp không đạt giấy chứng nhận chất lượng quốc tế Chứng nhận chất lượng trong nước 1 Doanh nghiệp có đạt giấy chứng nhận chất lượng trong nước 0 Doanh nghiệp không đạt giấy chứng nhận chất lượng trong nước 1 Doanh nghiệp có xuất khẩu 0 Doanh nghiệp không xuất khẩu 1 Doanh nghiệp có phải chi trả chi phí phi chính thúc 174 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 0 Doanh nghiệp không phải chi trả chi phí phi chính thức 1 Doanh nghiệp có đổi mới sản phẩm/ dịch vụ 0 Doanh nghiệp không đổi mới sản phẩm/ dịch vụ Chính phủ có hỗ trợ kỹ thuật technical assistance trong năm 2014 cho doanh nghiệp không 1 Có hỗ trợ 0 Không hỗ trợ Nguồn Tổng hợp của tác giả Dữ liệu nghiên cứu Đề tài tiếp cận dựa vào bộ dữ liệu khảo sát DNVVN năm 2015được thu thập bởi Viện khoa học lao động và xã hội ILSSA thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội MOLISA, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương CIEM thuộc Bộ Kế hoạch & đầu tư MPI, và Khoa kinh tế DoE thuộc Đại học Copenhagen cùng Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam. Năm 2015 là lần khảo sát thứ 6 điều tra 2 năm một lần. Trong cuộc khảo sát năm 2015 có 2649 DNNVV ngoài quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực chế biến, chế tạo tại trên lãnh thổ Việt Nam. Đối tượng trả lời phỏng vấn là chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc là nhà quản lý. 4. Kết quả nghiên cứu Thống kê mô tả Dựa vào kết quả thống kê mô tả đối với biến phụ thuộc ta thấy, trong 2649 DNNVV được khảo sát thì có 2520 doanh nghiệp không đổi mới công nghệ chiếm 95,1%, chỉ có 129 DNNVV đổi mới công nghệ chiếm 4,9%. Hình 2. Tỷ lệ DNVVN đổi mới công nghệ Tiếp theo, Hình 3 thể hiện mối liên hệ việc chính phủ có hỗ trợ kỹ thuật và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Sự hỗ trợ của chính phủ càng cao thì tỷ lệ đạt doanh nghiệp đổi mới công nghệ càng cao. Cụ thể, nếu chính phủ có hỗ trợ thì tỷ lệ đạt đổi mới công nghệ là 29,4%. Ngược lại tỷ lệ sẽ là 4,7% nếu chính phủ không hỗ trợ. Hiện tại bộ dữ liệu năm 2015 vẫn đang là bộ dữ liệu khảo sát DNVVN mới nhất được công bố. đổi mới công nghệ Có đổi mới công nghệ Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 175 Hình 3. Mối quan hệ sự hỗ trợ của chính phủ và khả năng đổi mới công nghệ Kết quả hồi quy logit Để thấy rõ hơn mối liên hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập nhóm tác giả đã đi thực hiện hồi quy logit với biến phụ thuộc là khả năng đổi mới công nghệ. Chi tiết kết quả về mô hình hồi quy được trình bày sau đây. Bảng 2 Kết quả hồi quy mô hình Chi phí nghiên cứu và phát triển Quy mô doanh nghiệp Doanh thu Trình độ học vấn chủ sơ hữu Chứng nhận chất lượng quốc tế Chứng nhận chất lượng trong nước Ghi chú ký hiệu*, ** và *** đại diện cho mức ý nghĩa thống kê 10%, 5% và 1%. Nguồn Phân tích của tác giả phủ không hỗ trợ kỹ thuật Chính phủ có hỗ trợ kỹ thuậtKhông đổi mới công nghệ Có đổi mới công nghệ 176 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 Các tác giả tiến hành dò tìm các vi phạm giả định hồi quy theo đúng kỹ thuật phân tích Logit. Cụ thể, nhóm đã kiểm định phương sai sai số thay đổi và tính chất đa cộng tuyến của mô hình. Kết quả kiểm định White cho thấy mức ý nghĩa của kiểm định ProbF>10% nên nhóm kết luận không xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến được thể hiện ở hệ số VIF ở Bảng 2. Tất cả các hệ số phóng đại VIF đều bé hơn hai nên ta có thể kết luận phương trình hồi quy không có hiện tượng đa cộng tuyến. Cuối cùng, nhóm kết luận với biến phụ thuộc là đổi mới công nghệ, các biến độc lập có ảnh hưởng bao gồm quy mô doanh nghiệp, số lần kiểm tra, chứng nhận chất lượng quốc tế, xuất khẩu, chi phí phi chính thức, đổi mới sản phẩm, hỗ trợ kỹ thuật. Thảo luận kết quả nghiên cứu Từ kết quả phân tích ta thấy, quy mô doanh nghiệp doanh thu, đổi mới sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật là các biến số có ảnh hưởng lớn nhất tới việc đổi mới công nghệ với mức ý nghĩa thống kê <1% trong mô hình. Kết quả này cũng tương đồng với kết quả của nhiều nghiên cứu trước. Nếu doanh nghiệp có doanh thu càng cao thì khả năng đổi mới công nghệ càng cao, điều này đã được các nhà nghiên cứu trước giải thích là các công ty lớn thường có nguồn lực về tài chính, khả năng nghiên cứu mạnh mẽ hơn, và hệ thống vận hành tốt hơn nên dễ dàng trong việc đổi mới công nghệ hơn các công ty nhỏ. Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp có ý định đổi mới sản phẩm thì họ thường đổi mới công nghệ phù hợp với sản phẩm chuẩn bị sản xuất. Đó là lý do tại sao đổi mới sản phẩm là một biến có ảnh hưởng lớn đến đổi mới công nghệ. Việc hỗ trợ kỹ thuật của chính phủ mang ý nghĩa quan trọng trong việc đổi mới công nghệ tại các DNVVN tại Việt Nam. Nếu chính phủ có sự hỗ trợ đối với doanh nghiệp thì DNVVN sẽ dễ dàng tiếp cận các công nghệ mới, thay đổi các công nghệ lạc hậu để có thể sản xuất ra các sản phẩm chất lượng đáp ứng nhu cầu khách hàng. Biến số tiếp theo ảnh hưởng đến khả năng đổi mới công nghệ là số lần kiểm tra về kỹ thuật của cơ quan chức năng và việc có phải chi trả chi phí phi chính thức không. Nếu số lần kiểm tra liên quan đến kỹ thuật, công nghệ của cơ quan càng nhiều thì khả năng doanh nghiệp đổi mới công nghệ càng cao, ngược lại nếu doanh nghiệp phải trả chi phí phi chính thức thì khả năng đổi mới công nghệ lại càng thấp. Kết quả này cho thấy, các chính sách kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng có ý nghĩa tích cực, nhằm giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tìm phương án sản xuất hiệu quả, đảm bảo môi trường làm việc cũng như chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên các chính sách này sẽ thực sự hiệu quả nếu việc kiểm tra minh bạch, công tâm và chính xác. Việc có chi trả chi phí không chính thức là rào cản để doanh nghiệp cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như đổi mới công nghệ. Cuối cùng, biến chứng nhận chất lượng quốc tế và xuất khẩu có ảnh hưởng lớn đến việc đổi mới công nghệ với mức ý nghĩa 10%. Dường như các yếu tố nước ngoài có ảnh hưởng tích cực đến đối mới công nghệ. Các doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp có giấy chứng nhận quốc tế đều có xu hướng đổi mới công nghệ tốt hơn các doanh nghiệp còn lại. 5. Hàm ý chính sách Từ kết quả nghiên cứu ta thấy, có bảy nhân tố có ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ tại các DNVVN. Do đó, để nâng cao khả năng đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp các nhà hoạch định chính sách có thể áp dụng các giải pháp sau. Thứ nhất, hỗ trợ của chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đến việc doanh nghiệp có đổi mới công nghệ hay không, chính vì vậy chính phủ cần có nhiều chính sách hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ dựa trên ứng dụng và chuyển giao công nghệ, làm chủ các công nghệ then chốt, nâng Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 177 cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, công cụ cải tiến năng suất, chất lượng thích hợp với DNNVV. Chính phủ có thể hỗ trợ tạo các mạng lưới liên kết chuỗi để các DNVVN có thể chia sẻ công nghệ kỹ thuật với nhau, thúc đẩy nhau đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng. Do nguồn lực có hạn nên trước hết Việt Nam có thể tập trung hỗ trợ một vài lĩnh vực trọng điểm. Ví dụ như lĩnh vực dịch vụ ăn uống, nhà hàng khách sạn và các dịch vụ du lịch. Số lượng các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực này khá nhiều, và nhu cầu khách hàng trong lĩnh vực này ngày càng tăng. Việc đổi mới công nghệ sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh vô cùng to lớn trong lĩnh vực đầy tiềm năng này. Thứ hai, bên cạnh việc hỗ trợ thì việc thanh tra, giám sát cũng rất quan trọng. Có nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam đang dẫn trở thành bãi rác công nghệ của thế giới. Những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường khi các chính phủ nước ngoài cấm sử dụng, đã được nhập về Việt Nam. Việc nhập khẩu máy móc, công nghệ lạc hậu, phế liệu rác thải không chỉ trực tiếp đe dọa môi trường, đe dọa an ninh năng lượng, mà còn cản trở quá trình hiện đại hóa nền công nghiệp của đất nước, giảm giá trị cạnh tranh của quốc gia. Theo đánh giá của ông Phan Xuân Dũng Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội “Tốc độ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp thời gian qua rất thấp, chưa đạt như mong muốn 10%/năm. Một số ngành, lĩnh vực như nhiệt điện, xi-măng, mía đường, luyện cán thép và khai khoáng vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu. Chúng ta vẫn chuyển giao công nghệ thông qua mua máy móc, thiết bị phần lớn đã lạc hậu hai, ba thế hệ là chính. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta”. Còn theo ông Chu Ngọc Anh Bộ trưởng Khoa học Công nghệ đánh giá tình trạng công nghệ trong nước là “rất yếu kém”. Điều này thể hiện qua các số liệu năm 2015, Việt Nam đứng thứ 56/140 trong bảng xếp hạng cạnh tranh toàn cầu, nhưng mức độ sẵn sàng về công nghệ chỉ đứng thứ 92, mức độ hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp đứng thứ 121 và khả năng tiếp thụ công nghệ đứng thứ 112 trong số 140 quốc gia được đánh giá. Đáng lo ngại hơn, theo Bộ trưởng Chu Ngọc Anh, là chúng ta vẫn thiếu công cụ pháp lý để kiểm soát và ngăn chặn các luồng công nghệ lạc hậu được nhập vào trong nước Song Giang, 2016. Chính vì vậy việc hoàn thiện bộ khung pháp lý cũng như các quy định chặt chẽ trong việc thanh tra giám sát đổi mới công nghệ là vấn đề mà các nhà hoạch định cần quan tâm. Cuối cùng, các doanh nghiệp có chứng nhận chất lượng quốc tế thì khả năng đổi mới công nghệ càng cao, nên việc khuyến khích các DNVVN áp dụng các chứng nhận chất lượng quốc tế là một giải pháp bền vững. doanh nghiệp sẽ có một hệ thống quản lý tốt, vận hành hiệu quả giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận đổi mới công nghệ thành công hơn. Hiện nay có rất nhiều phương pháp quản lý trên thế giới mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể áp dụng như ISO 9001, ISO 14001, ISO 22000 và ISO 27000. Tùy vào từng ngành nghề, lĩnh vực hoạt động khác nhau mà các doanh nghiệp tự lựa chọn cho mình mô hình quản lý phù hợp nhất. Hạn chế đề tài Mặc dù nghiên cứu đã đạt được một số kết quả, tuy nhiên nghiên cứu còn tồn tại một số hạn chế sau. Đề tài mới dừng lại ở việc phân tích dữ liệu thời điểm, chưa phân tích được ở dạng dữ liệu bảng để thấy được sự biến động của biến phụ thuộc theo thời gian. Đề tài chỉ mới kiểm chứng kết quả bằng mô hình hồi quy logit mà chưa so sánh được kết quả với các mô hình khác. Tác giả hy vọng sẽ khắc phục các hạn chế trên trong các nghiên cứu tiếp theo. 178 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 Tài liệu tham khảo Azadegan, A., Patel, P. C., & Parida, V. 2013. Operational slack and venture survival. Production and Operations Management, 221, 1-18. Bhasin, K. 2012. This is the difference between “invention” and “innovation”. Retrieved July 01, 2018, from Business insider website Branscomb, L. M. 2001. Technological innovation. International Encyclopedia of the Social & Behavioral Sciences, 20015, 498-502. Branzei, O., & Vertinsky, I. 2006. Strategic pathways to product innovation capabilities in SMEs. Journal of Business Venturing, 211, 75-105. Cancino, C. A., Paza, A. I. L., Ramaprasad, A., & Syn, T. 2018. Technological innovation for sustainable growth An ontological perspective. Journal of Cleaner Production, 179, 31-41. Divisekera, S., & Nguyen, K. V. 2018. Determinants of innovation in tourism evidence from Australia. Tourism Management, 67, 157-167. Frankelius, P. 2009. Questioning two myths in innovation literature. The Journal of High Technology Management Research, 201, 40-51. Gnyawali, D. R., & Park, 2009. Co-opetition and technological innovation in small and medium-sized enterprises A multilevel conceptual model. Journal of Small Business Management, 473, 308-330. Gujarati, D. N. 2004. Basic econometrics. New York, NY McGraw-Hill. Guo, Y., Xia, X., Zhang, S., & Zhang, D. 2018. Environmental regulation, government R&D funding and green technology innovation Evidence from China provincial data. Sustainability, 104, 940. Jugend, D., Jabbour, C. J. C., Scaliza, J. A. A., Rocha, R. S., Junior, J. A. G., … Salgado, M. H. 2018. Relationships among open innovation, innovative performance, government support and firm size Comparing Brazilian firms embracing different levels of radicalism in innovation. Technovation, 74-75, 54-65. Kim Hien 2015. Đổi mới công nghệ để doanh nghiệp “cất cánh” [Innovating technology for businesses to “take off”]. Retrieved February 25, 2019, from 2015. Liang, X., & Liu, A. M. M. 2018. The evolution of government sponsored collaboration network and its impact on innovation A bibliometric analysis in the Chinese solar PV sector. Research Policy, 477, 1295-1308. Lubatkin, M. H., Simsek, Z., Ling, Y., & Veiga, J. F. 2006. Ambidexterity and performance in small-to medium-sized firms The pivotal role of top management team behavioral integration. Journal of Management, 1, 32-64. Minh Nhat 2015. Bài toán đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp [Technology innovation problem for businesses]. Retrieved February 27, 2019, from Nguyen, T. A., Vu, H. T., & Nguyen, M. T. T. 2018. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các quỹ đổi mới công nghệ nhà nước Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 179 [Supporting small and medium enterprises to access state technology innovation funds International experiences and lessons for Vietnam]. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN Kinh tế và Kinh doanh, 341, 15-23. OECD. 2005. Growth in services. Paper presented at the Meeting of the OECD Council at Ministerial Level, 2005. Raisch, S., & Birkinshaw, J. 2008. Organizational ambidexterity Antecedents, outcomes, and moderators. Journal of Management, 343, 375-409. Rangus, K., & Slavec, A. 2017. The interplay of decentralization, employee involvement and absorptive capacity on firms’ innovation and business performance. Technological Forecasting & Social Change, 120C, 195-203. Sarooghi, H., Libaers, D., & Burkemper, A. 2015. Examining the relationship between creativity and innovation A meta-analysis of organizational, cultural, and environmental factors. Journal of Business Venturing, 305, 714-731. Song Giang. 2016. “Bãi rác công nghệ” - không còn là cảnh báo ["Technology landfill" - no longer a warning]. Retrieved September 20, 2019, from chinhtri/item/30706102-%E2%80%9Cbai-rac-cong-nghe%E2%80% Soto-Acosta, P., Popa, S., & Martinez-Conesa, I. 2018. Information technology, knowledge management and environmental dynamism as drivers of innovation ambidexterity A study in SMEs. Journal of Knowledge Management, 224, 824-849. Souitaris, V. 2002. Technological trajectories as moderators of firm-level determinants of innovation. Research Policy, 316, 877-898. Thong, J. Y. L. 2015. An integrated model of information systems adoption in small businesses. Journal of Management Information Systems, 154, 187-214. UNITED NATIONS UNIVERSITY. 2015. Characteristics of the Vietnamese business environment Evidence from a SME survey in 2015. Retrieved September 20, 2019, from UNITED NATIONS UNIVERSITY. 2015. Viet Nam SMEs database. Retrieved October 25, 2018, from Uzkurt, C., Kumar, R., Kimzan, H. S., & Sert, H. 2012. The impact of environmental uncertainty dimension on organizational innovavtiveness An empirical study on SMEs. International Journal of Innovation Management, 162, 1-23. The "environmental pollution-economic development" circle is a problem in the process of national sustainable development. As a complex concept of environmental protection and technology innovation, green technology innovation is the key to cracking this strange circle. This paper divides green technology innovation into green product innovation and green process innovation and measures green technology innovation based on the perspective of energy saving and emission reduction. Furthermore, we examine the effects of environmental regulation and government R & D funding on green technology innovation. The empirical findings are as follows 1 from the dynamic point of view, we test whether there is a significant "U-shaped" relationship between environmental regulation and green technological innovation, and we find there exists an "inflection point" in the role of environmental regulation in green technology innovation, and China is at the stage of inhibition before the "inflection point"; 2 direct government funding and tax incentives can promote green technology innovation, but the promotion of government tax incentives to green technology innovation is not significant; 3 the interaction between environmental regulation and government R & D will promote green product innovation and inhibit green process innovation, which is closely related to the imbalance of environmental regulation intensity in energy saving and emission reduction. In addition, this paper also gives out three kinds of control variables the level of regional development, the proportion of the regional manufacturing industry, and the development level of regional export-oriented economy and presents their effects on green technology The purpose of this study is to assess the effect of technological, organizational and environmental factors on innovation ambidexterity and its influence on the performance of manufacturing small- and medium-sized enterprises SMEs as well as the moderating effect environmental dynamism on this relationship. Design/methodology/approach Drawing on the Technology–Organization–Environment theory and the Knowledge-Based View, this paper develops an integrative research model, which analyzes the network of relations using covariance-based structural equation modeling on a data set of 429 Spanish SMEs. Findings The results show that information technology capability, knowledge management capability and environmental dynamism are positively associated with innovation ambidexterity. In addition, environmental dynamism is found to strengthen the positive effect of innovation ambidexterity on firm performance. Practical implications The study findings support the idea that innovation can be developed in an ambidextrous manner within a single SME as long as the firm is capable of creating a suitable organizational context and giving a prompt response to changes in the business environment. Originality/value Although many studies have highlighted that being ambidextrous is more challenging for SMEs than for their larger counterparts, the vast majority of studies has been conducted in large companies. This paper extends prior literature by analyzing antecedents and outcomes of innovation ambidexterity in manufacturing LiangAnita M. M. LiuThis study explores the dynamics of a government sponsored collaboration network concerning the development of solar photovoltaics PV technologies in China, and investigates the effect of network evolution on the subsequent innovation performance of network actors. Network structure characteristics and attribute proximity variables are jointly examined through a bibliometric methodology based on scientific publication and patent data. In addressing the evolution of the government sponsored collaboration network, this study has identified that actors are more likely to engage in collaboration with prior partners, partners of direct & indirect partners, and partners with similar attributes. These collaboration patterns, in turn, negatively impact direct ties and network efficiency, and increase the attribute proximity of an actor's network. On the other hand, the estimation results indicate that direct ties have an inverted U-shaped effect on innovation performance, while indirect ties are found to be positively related to innovation performance. As expected, a positive effect of network efficiency is found on innovation performance. The results of attribute proximity variables suggest geographical proximity is negatively related to innovation performance. Taken together, the collaboration patterns in the government sponsored network might have a negative impact on innovation performance of network actors. The empirical findings extend the network literature that collaboration network matters differently in different research contexts, and it is no longer appropriate to simply assume that collaboration is purely a good thing. As such, special attention should be paid to the network structure and composition in further policy work extends knowledge concerning the relationships among open innovation, innovative performance and government support for innovation within Brazilian firms. Data were obtained from two different firm samples Sample A, on incremental innovation, and Sample B, on radical innovation. The main research results are as follows. First, in considering government support for innovation, Sample B, based on radical innovation, played a superior and stronger role than Sample A. Secondly, for both samples, the cooperation of external firms has a positive effect on firms' innovative performance, which was positively controlled by the size of the firms. Thirdly, in general, radical innovation requires synergy and a more intense focus regarding the constructs considered therein. This work also adds value in methodological terms, as this is the first research to have tested different models of samples with different levels of radicalism in innovations are seen as means to optimize the efficient and clean use of vital resources in social-biological-economic systems. However, partial theoretical perspectives and experiences of their effects can lead to significant oversight of their potential and limitations. There is a need to manage technological innovations for sustainable growth from a holistic perspective, systemically and systematically. To do so, we present and validate an ontological framework, map the current body of knowledge, and identify the emphases and gaps in the domain. The ontological framework is constructed from the common terminology of the domain. The analysis is based on a map of 375 research papers published in the most prestigious journals relevant to the domain. The results show significant gaps in the research to fulfil the potential. Future research can be directed to fill these RangusAlenka SlavecThis paper investigates the relationship between organizational characteristics and firm's innovation and business performance. Specifically, we examine how decentralization, absorptive capacity, and employee involvement in light of the open innovation literature impact firm's innovation, which in turn affects business performance. We test the proposed model on a large sample of 421 manufacturing and service firms and find decentralization being positively connected to employee involvement, absorptive capacity, and firm's innovation performance. Moreover, the results show that employee involvement and absorptive capacity mediate the relationship between decentralization and firm's innovation performance. The results also suggest that firm's innovation performance positively influence firm's business performance. Implications for managers and future research are AzadeganPankaj C. PatelVinit ParidaSlack can act as a double-edged sword. While it can buffer against environmental threats to help ensure business continuity, slack can also be costly and reduce profitability. In this study we focus on operational slack, the form related to the firm's production processes. We investigate the role of operational slack on firm survival during its venture stage when its survival is significantly challenged by environmental threats. Specifically, we explore how change in three types of environmental uncertainty, namely dynamism, complexity, and lack of munificence, affect the relationship between operational slack and venture survival. Results suggest that with an increase in environmental uncertainty, operational slack lowers the likelihood of venture Uzkurt Rachna KumarHalil Semih KimzanHanife SertThe purpose of this study is to examine the effects of factors of environmental uncertainty on the innovativeness of small and medium enterprises SMEs. Innovativeness is widely accepted as an important characteristic for firm competitiveness and it has been studied by both researchers as well as business managers. Environmental uncertainty is a measure of the complexity of changing external forces faced by an organisation and it crucially impacts the responses of organisations in order to stay competitive. Based on approaches in existing literature, this study conceptualises environmental uncertainty comprised three separate dimensions — competitive intensity, market/demand turbulence, technological turbulence. Data for the study were collected from 156 SMEs in Turkey. SMEs are regarded as an important ingredient in the economic growth of nations and especially so in developing nations such as Turkey. The findings of the study reveal that market/demand turbulence and technological turbulence have a positive effect on the innovativeness of SMEs. Interestingly and contrary to popular belief, competitive intensity was not found to have significant effect on an SME's innovativeness. The implication of the results from this research is that the degree of organisational innovativeness for SMEs tends to increase and therefore should be supported in environments with greater technological and market/demand turbulence. This research makes an important contribution to the developing body of innovation literature and provides directions for managers and researchers in influencing innovativeness of firms.
môi trường công nghệ ảnh hưởng tới doanh nghiệp